30 March 2019

Ánh Sáng và Bóng Tối

Thành phố Melbourne, tháng Ba này có 3 sự việc được dư luận chú ý đều liên quan đến tôn giáo.

Vụ thứ nhất: 
Hôm 13/3/19, Chánh Thẩm Phán Tòa Trung Thẩm Melbourne tuyên án ông George Pell sáu năm và tám tháng tù về tội xâm phạm tình dục trẻ dưới 16 tuổi vào thập niên 90. Hồng Y George Pell là chức sắc cao nhất của tòa thánh La Mã bị tuyên bố là có tội liên quan đến việc xâm hại tình dục trẻ em.

Ông Pell thụ phong chức linh mục từ năm 1966, từng giữ chức Chủ tịch Caritas Australia, một tổ chức thiện nguyện giúp đỡ nhiều người tỵ nạn Việt Nam ở các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Ông nhận chức Tổng Giám Mục Melbourne năm 1996, và sau đó Tổng Giám Mục Sydney năm 2001, hai năm sau ông thụ chức Hồng Y. Từ năm 2014, ông Pell được mời làm Cố vấn Kinh tế cho Đức Giáo Hoàng Francis, và đã được coi như một trong ba ứng viên sáng giá nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng trong tương lai.

Ông Pell là tác giả của nhiều cuốn sách viết về tôn giáo, và phụ trách chuyên mục tôn giáo của tuần báo lớn Sunday Telegraph Sydney. Ông được chính phủ Úc trao huy chương Centenary Medal, thừa nhận những đóng góp của ông cho xã hội Úc, và được phong danh hiệu Companion of the Order of Australia, một danh hiệu do Nữ Hoàng Elizabeth II ban từ năm 1975, dành cho những người tài giỏi và có nhiều đóng góp cho xã hội.

Khi giữ chức Tổng Giám Mục Melbourne, ông Pell đã thành lập nhóm chuyên tác để điều tra và giải quyết các khiếu nại về xâm hại tình dục trẻ em liên quan đến nhà thờ Công giáo trong địa phận Melbourne. Trên cơ sở đó ông chỉ ra những thất bại trong quá khứ của các chức sắc giáo hội trong việc bảo vệ trẻ em khỏi những xâm hại tình dục ở nhà thờ, và chứng tỏ những cố gắng của ông với tư cách Tổng Giám Mục trong cuộc chiến chống lại sự xâm hại tình dục mà các nạn nhân là trẻ em.

Vì vậy, việc ông Pell bị tuyên án tù về tội xâm hại tình dục đối hai cậu bé trong ca đoàn, sau một thánh lễ vào Chủ Nhật, khoảng vài tháng đầu sau khi nhận chức Tổng Giám Mục địa phận Melbourne năm 1996, có thể nói như một cơn địa chấn đối với Giáo hội Công giáo ở Úc châu nói riêng, và người dân nước Úc nói chung.

***

Vụ thứ hai: 
Hai ngày sau khi bản án dành cho ông Pell được công bố trên phương tiện truyền thông như là một sự kiện lịch sử đối với giáo hội Công giáo, và luật pháp Úc, vào chiều ngày 15/3/19, một thanh niên 28 tuổi người Úc, Brenton Harrison Tarrant, đã xả súng bắn chết 50 người, và làm bị thương 50 người khác ở hai nhà thờ Hồi giáo ở thành phố Christchurch, thuộc Tân Tây Lan (New Zealand).

Dường như các bình luận gia của các tờ báo lớn chuyên mục tôn giáo của Úc chưa viết xong đoạn văn đầu tiên trong bài bình luận của họ về sự việc liên quan đến ông Pell, đã vội vả vác ba lô bay sang Tân Tây Lan để thu nhận tin tức mới nhất về vụ nổ súng gây chấn động một đất nước nhỏ bé nhưng xinh đẹp và yên bình này.

Hung thủ Tarrant sinh năm 1991 ở thị trấn Grafton, khoảng 500 cây số Đông-Bắc Sydney, tốt nghiệp trung học ở đây, sau đó làm huấn luyện viên trong các phòng tập thể hình ở địa phương. Năm 2012, Tarrant bắt đầu đi du lịch Á châu, và Âu châu. Tarrant quan tâm tới những di tích về cuộc thánh chiến giữa những người Công giáo và đế quốc Ottoman.

Tarrant tuyên bố chống lại sự can thiệp của NATO đối với các cuộc thảm sát người Hồi Giáo ở Kosovo, Anbania, và cho rằng đó là những cố gắng của người công giáo Âu châu nhằm đưa những người Hồi Giáo ra khỏi lục địa này. Tarrant cho phát hình trực tuyến (live-stream) 17 phút đầu tiên của vụ bắn giết trên trang mạng xã hội Facebook Live. 

Tarrant đã bị bắt, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau khi hắn bắt đầu cuộc thảm sát, trên đường chạy tới một nhà thờ Hồi Giáo thứ ba. Tarrant đối diện với tội mưu sát, đã ra tòa hôm 16/3 và sẽ ra tòa trở lại vào thứ Sáu tuần tới, ngày 5/4/19.

Thủ Tướng Ardern của Tân Tây Lan gọi đây là một ngày đen tối của đất nước này. Bà cho rằng đây là một vụ khủng bố đã được tính toán kỷ. Trong khi Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), ông Recep Tayyip Erdogan, cho chiếu đoạn băng ghi hình của Tarrant về vụ bắn giết tại cuộc tụ họp những người ủng hộ chính phủ của ông cho những cuộc bầu cử địa phương sắp tới. Các chính phủ Úc, Tân Tây Lan, và đảng đối lập Thổ đã phản đối Tổng thống Thổ về việc này.

***

Vụ thứ ba: 
Ngày 26/3/19, nhật báo lớn và uy tín nhất Melbourne, báo The Age đã lên khuôn bài “Buddhist monk who bet temple on high-risk property empire saved by $8m cash payment” (Tạm dịch: Nhà sư Phật giáo thế chấp ngôi chùa cho các đầu tư địa ốc có rủi ro cao đã được cứu nhờ 8 triệu đô tiền mặt được trả), viết về sư trụ trì ngôi chùa Linh Sơn của người Việt ở Reservoir cách trung tâm thành phố Melbourne khoảng 14 cây số. The Age cho đăng hình cổng ngôi chùa có dán bảng “Mortgagee now in possession” (Tạm dịch: Chủ nợ hiện sở hữu).

Theo The Age, có khoảng 2000 tín hữu thường đến ngôi chùa tọa lạc trên khu đất rộng 2.4 hec-ta này và năm ngoái số tiền cúng dường khoảng chừng $100 ngàn đô, sút giảm nhiều so với khoảng $400 ngàn đô trong năm 2013. Dù vậy sư trụ trì chùa, ông Nguyễn Đức Thắng, đã thế chấp ngôi chùa này cho các khoảng đầu tư đất đai bao gồm khu vực 10 hec-ta đất ở Melton South, và 63 hec-ta đất khác ở Mount Cottrell. Ông Thắng còn được biết đến với tên gọi Thầy Đạo (Master Dao) đến Úc từ Việt Nam năm 1992. Các nhà báo đã tìm cách liên lạc với ông Thắng sau đó, nhưng không gặp.

Ngôi chùa đã được dùng để thế chấp cho khoản nợ 8 triệu đô vào tháng 12/2017 với lãi suất lên tới 14.5%, đáo hạn trong vòng một năm. Ngôi chùa đã được cứu thoát khỏi sự tịch thu của chủ nợ nhờ khoản chi trả $8 triệu đô từ một “mạnh thường quân” (“A benefactor stepped in”). Theo bài báo, một nguồn thu của chùa đến từ việc cho thuê những căn hộ trong chùa, với quảng cáo “enlightened living” (tạm dịch: đời sống giác ngộ). Bài báo kết thúc với việc dẫn lời một tín hữu, nói rằng việc nhà chùa sở hữu nhiều bất động sản là việc rất đáng quan tâm, mục đích của chùa là phát triển Phật pháp, không phải là đầu tư đất để kiếm lời.

Vụ thứ ba, tuy không lớn bằng hai vụ trên, nhưng có lẽ không dừng hẳn ở đây, sẽ có sự tham dự của sở thuế, các nhà lập pháp và hành pháp tiểu bang và liên bang về các luật lệ liên quan đến nhiều ngôi chùa liên tục được xây dựng trong các khu vực có nhiều người Á châu bao gồm người Việt sinh sống ở khắp mọi tiểu bang trên nước Úc.

Nếu có một cây viết trên bàn, ai cũng sẽ đồng ý với câu: có một cây viết trên bàn. Nếu không có cây viết trên bàn, mọi người cũng sẽ gật đầu là không có cây viết trên bàn. KHÔNG và CÓ rõ ràng và đơn giản. Nhưng đối với tôn giáo thì vấn đề không đơn giản như vậy: trên và trong khoảng không bao la xung quanh con người, đối với người Công Giáo là sự hiện hữu của Chúa, với người theo đạo Phật giáo, đó là Phật Tổ, Phật Bà Quan Âm, và đối với người Hồi giáo là thánh Ala. 

Con người dễ dàng đồng ý với sự CÓ, nhưng không bao giờ có thể đồng ý về “cái” KHÔNG. Khoảng KHÔNG đó thuộc về niềm tin, và bởi nó là KHÔNG, nên sẽ không bao giờ có được sự đồng ý về điều gì tồn tại trong khoảng KHÔNG đó.

Nếu niềm tin của người Công giáo rằng miếng bánh làm bằng bột mì sau khi đọc kinh sẽ trở thành “mình” Chúa, và rượu đỏ sau khi làm lễ sẽ trở nên “máu” Chúa, và linh mục sẽ uống “máu” Chúa, và tín đồ sẽ ăn “mình” Chúa, và Chúa ở cùng với họ. 

Tương tự, đó là niềm tin đối với các tín đồ đạo Phật rằng việc cúi đầu phủ phục dưới những bức tượng làm bằng thạch cao, đất nung, xi-măng… có dáng hình ông Phật, hay Phật-Bà, thì những may mắn, an lành sẽ đến với họ. Và, cũng sẽ là một niềm tin đối với người Hồi giáo trong việc họ cầu nguyện mỗi ngày nhiều lần trước khi mặt trời lặn, có thể chỉ với bằng một vuông khăn trắng để quỳ trên đó, hướng về phía mặt trời và niệm kinh Koran, với hy vọng được thánh Ala ban cho sự bình an trong cuộc đời này.

Chúa của người Công Giáo, Phật của người Phật giáo, và thánh Ala của người Hồi Giáo, tồn tại trong niềm tin của mỗi tín đồ, bất kể thuộc tôn giáo nào, như là Thượng Đế. Thượng Đế của người Công Giáo, của tín đồ Phật giáo, và Hồi Giáo, v.v… có hình hài khác nhau, lời lẽ khác nhau. Những niềm tin khác nhau đối với những Thượng Đế khác nhau. 

Niềm tin thì không tính đến chuyện đúng-sai. Niềm tin thì không thể lý luận. Niềm tin thì không thể tranh chấp. Niềm tin tôn giáo là góc tâm linh riêng biệt của mỗi cá nhân. Một người tin vào Thượng Đế của mình và có thực hiện những điều mà Thượng Đế của họ dạy hay không, chỉ có họ mới biết một cách rõ ràng và đầy đủ. Thượng Đế không tranh chấp, bởi Thượng Đế là niềm tin.

Vấn đề là: Một số người đã sử dụng niềm tin vào Thượng Đế của những người khác để mưu cầu lợi ích cá nhân cho chính họ, cho đảng, cho phe nhóm của họ. Niềm tin khác với sự lợi dụng niềm tin. Niềm tin tôn giáo, và việc lợi dụng niềm tin tôn giáo là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Việc sở hữu con dao, và việc sử dụng con dao để hại người, cướp đoạt tài sản, sinh mạng của người khác là hai chuyện khác nhau.

Việc ông Pell bị kết án như nói ở trên là chuyện của riêng ông Pell và những người có dính dáng tới việc che chở cho hành vi xâm hại tình dục trẻ em ở nhà thờ. Một tín đồ Công giáo thuần thành sẽ không cảm thấy việc truyền thông loan tải những tin tức này như là một sự xúc phạm đến niềm tin của họ. Niềm tin của bạn là của bạn, nó còn hay mất là do chính bạn. 

Không ai có thể xúc phạm được niềm tin của bạn. Thượng Đế của bạn ở cùng với niềm tin của bạn. Gia đình, người thân, bạn bè, và đồng nghiệp của bạn đang cùng với bạn sống trong yêu thương, và những hành động nhân ái của bạn được hướng dẫn bởi niềm tin của bạn vào Chúa, vào Thánh Kinh Công Giáo.

Việc một thanh niên người Úc bắn giết những người Hồi Giáo, chỉ vì họ tin ở thánh Ala, Thượng Đế của người Hồi Giáo, là một hành động giết người vô tội. Điều đáng tiếc là một số chính trị gia của Úc lại lợi dụng việc này để kiếm phiếu bằng cách tấn công vào chính sách di dân của chính phủ đối với người tỵ nạn, khoét sâu những va chạm văn hóa, xã hội, giữa những người đã định cư lâu năm trên đất Úc và những người tỵ nạn vừa đến xứ sở này. Thượng Đế tồn tại trong niềm tin của mỗi người. Thượng Đế không bước vào nghị viện cho quyền lợi riêng của một đảng phái nào, không bị lôi kéo vào các tranh chấp chính trị.

Phật giáo, và những tôn giáo khác, đều kêu gọi mọi người sống tốt với nhau. Việc cúng dường trong Phật giáo khởi đi từ việc Phật xuống núi khất thực, xin thức ăn bố thí. Hành động đó kêu gọi sự buông bỏ đối với những tranh chấp về vật chất, và khơi dậy lòng từ bi giữa những con người với nhau. 

Điều đó hoàn toàn không phải là một sự trao đổi, đầu tư, và trục lợi. Việc các sư-sãi sử dụng tài vật, công sức, cúng dường đó vào các kế hoạch mua đất, đầu cơ kiếm lợi nhuận, là hoàn toàn trái với tinh thần Phật giáo. Đó là sự lợi dụng niềm tin của những tín đồ Phật giáo.

Khi Tarrant bước vào một ngôi nhà thờ Hồi giáo, một tín đồ Hồi giáo đã chào hắn “Hello, Brother” (Chào người anh em), Tarrant rút súng bắn gục người đó và bắt đầu cuộc thảm sát. Người Hồi Giáo thuần thành không kêu gọi bắn giết và khủng bố. Tín đồ Hồi Giáo bị nghiêm cấm sử dụng rượu vì cho rằng rượu sẽ làm loạn tánh và thánh Ala không ở cùng với người bị loạn tánh vì rượu. Việc lợi dụng niềm tin của người Hồi Giáo để kêu gọi sự giết chóc, không phải là tinh thần của đạo Hồi.

Những người tham gia mạng xã hội những ngày này đăng hình Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nắm tay ông sư chùa Ba Vàng, là người đang bị truy vấn về các khoản tiền đóng vào chùa để “nộp cho vong”, họ cũng đăng hình tổng thống Nam Dương, đất nước Hồi Giáo đông dân nhất thế giới, ông Joko Widodo, đã đến cắt băng khánh thành một hệ thống tàu điện do Nhật tài trợ và xây dựng trên đất nước của ông, với bộ đồ dân dã, bình dị.

Một người có niềm tin mạnh mẽ vào Thượng Đế, sẽ được Thượng Đế của họ hướng dẫn để phân biệt được đâu là niềm tin, và đâu là sự lợi dụng niềm tin. Tôn giáo và điều đối lập, khác biệt chính là sự lợi dụng tôn giáo. Đâu là Thượng Đế và đâu là Ma Vương trá hình Thượng Đế.

Ta là đường đi, là sự thật, và ánh sáng” – Kinh Thánh. Đường đi không phân biệt những bước chân dẫm đạp. Đường đi bao dung và tha thứ. Sự thật đối lập với điều giả trá. Ánh sáng soi rọi đến những vùng u mê tăm tối. Niềm tin tôn giáo chính là niềm tin vào sự thật, đường đi, và ánh sáng. Việc lợi dụng tôn giáo chính là chướng ngại, sự giả dối và bóng tối.

Nguyên Đại
31 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

15 March 2019

Trung Cộng: Cắm và siết ốc

Nguyễn Phú Trọng trà đàm
với Tập Cận Bình:
Trà Việt Nam không ngon bằng
 trà Trung Quốc.
Ảnh: Internet
Nếu muốn nối hai vật thể, hai thanh sắt hay gỗ ngay cả hai mảnh xương, phải làm gì: Cắm và Siết Ốc. Trung Cộng (TC) đã thực hiện chiến lược này đối với nhiều nước, đặc biệt là với Việt Nam.

1974
Sau chuyến đi Trung Quốc của TT Mỹ Nixon năm 1972, quan hệ chiến lược Mỹ-Trung chống Liên Xô được chính thức ký kết ở Thượng Hải. VNCH bị bỏ rơi, buộc phải ký hiệp định Paris năm 1973. 

Mỹ án binh bất động và TC chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, nằm cách bờ biển Việt Nam khoảng 300 cây số, với sự thỏa thuận của VC trước đó nhiều năm (Công Hàm Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai năm 1958).

Các cầu không và hải vận được thiết lập để chuyển khí tài và nhân lực đến Hoàng Sa biến nơi này trở thành một căn cứ quân sự có tính chiến lược trên biển Đông. Bốn mươi lăm (45) năm đã trôi qua, Hoàng Sa trở thành Tam Sa của TC. “Con ốc” Hoàng Sa đã được cắm và siết chắc, cố định như thể được hàn cứng xuống lòng biển để trở thành một trạm gác đối với VN, một pháo đài của TC trên biển Đông.

1984
Tranh thủ viện trợ toàn diện của cả Liên Xô và TC, xé bỏ hiệp định Paris, VC chiếm Miền Nam VN năm 1975, biến toàn cõi VN thành một trại cải tạo khổng lồ bọc trong một cả nước – hợp tác xã chìm trong thất bại và nghèo đói. Thỏa thuận với Liên Xô, VC đưa bộ đội sang Cambodia đánh bại quân Pol-Pot do TC hỗ trợ; và TC xua quân thọc vào toàn tuyến biên giới phía Bắc VN để “dạy cho VN một bài học”.

Các thế hệ thanh niên VN, sau 21 năm chiến tranh Nam-Bắc, tiếp tục đổ xương máu xuống cả hai mặt trận phía Tây và Bắc, năm 1979. Vướng vào hai cuộc chiến cục bộ ở hai tuyến biên giới, cộng với việc ôm cứng mô hình kinh tế XHCN “truyền thống Mác-Lê”, VC đã làm kiệt quệ nền kinh tế VN; trong khi các cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã khởi sắc đại lục Trung Cộng.

TC chiếm giữ một số vị trí chiến lược ở biên giới trong cuộc chiến tranh kéo dài hơn mười năm sau đó. Ải Nam quan một vị trí có ý nghĩa lịch sử bị TC chiếm, nhưng được nhắc nhiều nhất là các va chạm đẫm máu ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang, năm 1984. “Con ốc” phía Bắc được TC cắm vào nền đất cứng biên giới trên lãnh địa VN.

1994
Chuẩn bị xây dựng thêm một pháo đài nữa trên biển Đông, năm 1988 TC tiến chiếm các bãi đá Colin, Len-Đao và Gạc-Ma, thuộc quần đảo Trường Sa; trong khi Liên Xô đã có những xáo trộn, nứt gãy sâu sắc sau một thời gian chạy đua vũ trang với Mỹ, đuổi theo các mô hình kinh tế XHCN sai lầm, và bị liên minh Mỹ-Trung bao vây. 

VC rơi vào tình trạng kiệt quệ, thiếu chỗ dựa, tìm cách hướng về TC để duy trì chế độ. Lê Đức Anh đã ra lệnh buông súng và 64 binh sĩ VN trên đảo Gạc Ma đã bị hải quân TC tàn sát ngày 14/3/1988.

Năm 1989, VC rút quân khỏi Campuchia. Linh-Mười-Đồng đã ký hiệp ước Thành Đô với Giang Trạch Dân và Lý Bằng ở TC vào tháng 9-1990, dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, cùng với các trung gian Lê Đức Anh và Trương Đức Duy, viên Đại Sứ TC tại VN vào thời điểm đó.

Căng thẳng quân sự biên giới giữa VC và TC coi như tạm ngưng, và ngưng hẳn theo sau những nhượng bộ về đất đai dọc tuyến biên giới, với các cột mốc được cài sâu vào trong phần đất của Việt Nam, kèm theo một số nhượng bộ khác của VN trên vịnh Bắc Bộ. 

Các chướng ngại địa lý và chiến lược được dọn dẹp, mở đường để quan hệ giữa hai đảng CS Trung-Việt rẽ sang một bước ngoặc mới, đưa đến việc Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt ký hiệp định mậu dịch Trung-Việt vào tháng 11/1991 tại nhà khách Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh.

Hỗ trợ cho chính phủ Hun-Sen của Campuchia, TC áp sát sườn Tây của VN, đóng thêm một “con ốc” nữa trên quần đảo Trường Sa, phía Đông VN, và thiết lập các đường dẫn cho các bước tiến “mềm mại” từ phía Bắc. Bên cạnh đó, TC đẩy hộp kẹo nhãn hiệu “Liên Quan Thông Đồng” và chai nước tương (xì-dầu) [Sơn thủy tương liên. Lý Tưởng tương thông. Văn hóa tương đồng. Vận mệnh tương quan] về phía VC trên bàn đàm phán để cùng “phát triển kinh tế trong hòa bình hữu nghị” và duy trì sự sống-còn và quyền lãnh đạo tuyệt đối của ĐCS.

2004
Sau Hội nghị Thành Đô, lãnh đạo của hai ĐCS thường xuyên thăm viếng qua lại, diễn biến hòa bình từng bước xác lập. Sang Việt Nam: TT Lý Bằng (1992), TBT Giang Trạch Dân (1994), CTQH Kiều Thạch (1996), TT Chu Dung Cơ (1999), và Giang Trạch Dân (lần thứ hai) năm 2002. 

Quan trọng nhất phải kể đến chuyến viếng thăm của Hồ Cẩm Đào vào cuối năm 2005 với tư cách là TBT Đảng CSTQ, Chủ Tịch nước CHND Trung Hoa, và Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương. Chỉ trong chuyến đi này, TC và VC đã ký kết với nhau 14 hiệp ước và các thỏa thuận kinh tế với tổng số vốn lên đến 1.2 tỷ USD.

Năm 1999, Giang Trạch Dân đã “hát” tặng Lê Khả Phiêu bài “16 chữ vàng”: “Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai. Hữu nghị láng giềng. Hợp tác toàn diện”. Một năm sau, Nông Đức Mạnh với chức Tổng Bí Thư và “song ca” với Giang Trạch Dân ca khúc 16 chữ vàng và bốn tốt [láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt] trong chuyến viếng thăm TC vào tháng 11/2000.

Quan hệ giữa VC và TC được nâng tầm từ các thỏa thuận mậu dịch, biên giới, sau đó lên thành “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” theo sau chuyến đi của Nông Đức Mạnh đến Trung Quốc vào năm 2008. 

Trước đó, vào ngày 10/4/2007, tại Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng, khi đó là Chủ Tịch Quốc Hội VN, đã tuyên bố “quan hệ Trung-Việt chưa bao giờ tốt đẹp như lúc này”. Kim ngạch thương mại giữa hai nước từ 30 triệu USD năm 1991 tăng lên thành 22.5 tỷ USD vào năm 2009, gấp 700 lần sau 18 năm.

VN xuất khẩu sang TQ chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô: than đá, dầu thô, quặng Bauxite … và nhập khẩu các máy móc, thiết bị, hóa chất, sản phẩm kỹ nghệ. Vấn đề là sự mất cân bằng mậu dịch: trong khi hàng hóa VN không đủ sức cạnh tranh ở thị trường TQ, thì hàng hóa TQ lại thống trị hoặc phá hoại nền kinh tế lệ thuộc và èo uột của VN. 

TC đã cung cấp vốn cho VC qua các hình thức viện trợ không hoàn lại và tín dụng ưu đãi, ngược lại các dự án về cơ sở hạ tầng, ngay cả liên quan đến an ninh, ở tất cả các thành phố quan trọng của VN đều do TC thực hiện.

TC cấp nhiều học bổng cho sinh viên VN. Các đoàn văn công của hai quốc gia thường xuyên đi lại. Phim ảnh TQ tràn ngập thị trường và các đài tivi nhà nước của VN. Sách giáo khoa lịch sử VN, không viết gì đằng sau chữ “giặc” (giặc gì không cần biết). Truyền thông VN khi diễn dịch các va chạm giữa tàu thuyền trên biển giữa VC và TC, họ viết: tàu Việt Nam bị “tàu lạ” tấn công.

Năm 2013, Nguyễn Văn Thơ Đại Sứ VN tại TQ, phát biểu: “quan hệ Trung-Việt về tổng thể đã đạt nhiều phát triển mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu”, nghĩa là “các con ốc” trên khắp các lãnh vực địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa đã được cắm nhiều và sâu vào VN. Sự lệ thuộc của VC vào TC dường như bất khả vãn hồi.

2014
Đã xảy ra một vụ “chạm điện” trên sân khấu “ca-nhọt” của hai phía; tháng 5-2014, TC đưa giàn khoan 981 vào gần quần đảo Hoàng Sa, trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN. Vụ tranh cãi này đưa đến một số va chạm của tàu thuyền giữa hai “láng giềng tốt”. Các cuộc biểu tình nổ ra phản đối TC, ở cả trong và ngoài VN, đáng kể là các cuộc biểu tình của công nhân các khu vực công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, và Sài-gòn, đồng thời ở Vũng Án/ Hà Tĩnh.

Một vài cơ sở thương mại của người nói tiếng TQ bị đốt phá. Thêm vào là các cuộc biểu tình khác ở khu vực có đông người tỵ nạn VN sinh sống: Cali, Berlin, Frankfurt. Ngày 23/5/14 đã có một phụ nữ châm lửa tự thiêu trước Dinh Độc Lập. Ngày 20/6/14 có thêm một cuộc tự thiêu nữa của một cựu sĩ quan pháo binh VNCH ở Floria, Hoa Kỳ.

Trong khi nội bộ ĐCS Trung Cộng khá đồng nhất về các vấn đề với VN, thì nội bộ ĐCS VN đã có một số đồng chí đặt câu hỏi về “đồng chí tốt” TC. Ngày 22/5/14, trong chuyến viếng thăm Philippines, Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông”, và “những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói” [câu này lập lại một ý rất quen].

TC coi giàn khoan 981 như một cái “cặp nhiệt”, và phép thử này cho thấy có một số “đối-TÁT” chưa “tốt” do bị “nhiễm khuẩn” thân Mỹ và Tây Phương. Thắng VN trong một cuộc chiến trên biển là một điều không mấy khó khăn, nhưng nó phá hoại tất cả mọi cố gắng “mềm mại” đã thực hiện đối với VN trong hơn hai thập niên, kể từ mật ước Thành Đô. Hơn nữa, điều này có thể đẩy các nước trong khu vực tranh chấp ở biển Đông xích lại và gắn kết hơn trong một liên minh dưới sự bảo trợ của Mỹ.

Ngày 15/7/14, giàn khoan 981 rút đi vì “đã thực hiện xong các hoạt động thăm dò trong khu vực” theo Hồng Lỗi, phát ngôn của Bộ Ngoại Giao TC, một ngày sau đó. Phát biểu hông-lỗi này “đúng” và chính xác trong từng dấu chấm, nhấn, và nháy. Tháng 7 nhằm đầu mùa mưa bão trong khu vực biển Trung phần VN, rõ ràng là cái mà TC thăm dò không phải là dầu. Tháng 8/14, Nguyễn Phú Trọng cử đặc phái viên Lê Hồng Anh sang TQ theo lời mời của chính phủ TC để hạ nhiệt tình hình.

Cần phải có một sự thanh lọc toàn diện các “đồng chí tốt” ở VN để chuẩn bị nhân sự cho bước kế tiếp. Tháng 11/2015, Tập Cận Bình đến Việt Nam, tiếp xúc với Sang, Trọng, Hùng, Dũng. Sang đã mệt mỏi dã tâm, Hùng bất tài, Dũng không dùng được. Tập chọn Trọng.

Chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập đã được khởi trồng từ năm 2012, sau đại hội 18 của ĐCS Trung Quốc, nở rộ vào đúng thời điểm này. Thượng Tướng TC Quách Bá Hùng bị khai trừ khỏi ĐCS TQ tháng 7/2015. Trước đó một tháng là Bộ Trưởng Công An Chu Vĩnh Khang, một năm trước đó là Từ Tài Hậu, phó CT quân ủy trung ương ĐCS TQ. 

Sẽ không có điều gì thích hợp hơn là giúp Trọng giành quyền lực, thanh lọc hàng ngũ chống TQ trong nội bộ ĐCS VN với chiêu bài “chống tham nhũng”. “Con ốc” Nguyễn Phú Trọng được cắm vào chóp bu của ĐCS VN, và chiếc cờ-lê ma-dze in “chống tham nhũng” bắt đầu xiết thuận theo chiều kim đồng hồ theo sự điều khiển của siêu kỷ sư chế tạo robot, Tập Cận Bình.

Tham nhũng là mặt trái của đồng bạc, mặt kia là quyền lực tập trung, là độc tài cai trị. Vì vậy, từ tổ trưởng tổ dân phố đến chủ tịch nước, chỉ cần chỉ tay tới thì ma quỷ tham nhũng hiện nguyên hình. Việc bắt giam, quy án, xét xử đúng quy trình “tứng từng tưng” bất cứ “đồng chí” nào cũng đều không sai, và chắc chắn được sự ủng hộ của dân chúng. 

Cái bắt tay của ông Tập đối với ông Trọng đã nói rất rõ những điều tương tự như vậy, rằng: ta sẽ giúp ông lấy lại uy tín của đảng, sẽ giúp ông trở nên một minh quân, hay là một “ông Phật” cũng được (nếu ông muốn gọi như vậy), cùng với một đội ngũ cán bộ trung kiên, và trung thành với ông [và dĩ nhiên cũng sẽ trung thành với ta, với những mục tiêu mà ta và ĐCS TC nhắm đến].

Hai tháng sau khi Tập viếng thăm VN, tháng 1-2016, đại hội ĐCS VN lần thứ 12 được tổ chức: Hùng, Dũng, Sang đều được ĐH “cho phép rút tên” cùng với Rứa, Nghị và Hải. Tống Đào, đặc phái viên của Tập, có mặt tại VN trong suốt thời gian xảy ra ĐH. Các “tàu đánh cá” và hải cảnh của TC “tự nhiên” xuất hiện nhiều hơn trên vịnh Bắc Bộ. Các đơn vị bộ đội đặc biệt “không biết thuộc bộ chỉ huy nào” được triệu về thủ đô để bảo vệ ĐH. Dường như trong lịch sử ĐCS VN, chưa có một ĐH nào được bảo vệ chặt chẽ đến mức như vậy.

Trọng tái đắc cử chức Tổng Bí Thư và nói nhỏ nhẹ đến “dễ thương”: “… được ban chấp hành TƯ…bầu tôi làm Tổng bí thư, gần như 100% tuyệt đối, đấy là tôi bất ngờ… tuổi tôi là cao nhất, sức khỏe, trình độ cũng có hạn và tôi cũng đã xin nghỉ rồi nhưng trách nhiệm của đảng giao thì chúng tôi với tư cách là đảng viên phải chấp hành”. 

Thực ra, người đắc cử chức TBT qua đại hội này không phải là ông Trọng, mà là ông Tập Cận Bình. Ông Tập đã nắm được ĐCSVN, điều này chỉ có Mao Trạch Đông làm được với Hồ Chí Minh, khi chưa bị Lê Duẩn đề nghị “bác” ngồi chơi và “nghiên cứu lại các tập thơ” đã sao chép.

Các phe phái trong ĐCS VN đã có những tranh chấp dữ dội kể từ sau ĐH 12. Đại tướng Đỗ Bá Tỵ được cử sang giữ chức phó chủ tịch quốc hội, giúp việc gì đó cho bà Ngân CTQH. Việc này tương tự như lúc ĐT Võ Nguyên Giáp được thăng thẳng sang chức Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ Có kế hoạch, dưới triều Lê Duẩn. 

Đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, “không biết đi lạc ở đâu” không thấy về làm việc. Tư lệnh quân khu 2, tướng Lê Xuân Duy, “đột ngột qua đời”. Mười một ngày sau khi tướng Duy chết, bí thư và chủ tịch tỉnh Yên Bái nơi Duy làm việc bị giết. Vụ ám sát đôi này được tròng vào đầu Đỗ Cường Minh, được cho là tự tử sau khi gây án bằng cách “tự bắn vào gáy”.

Các tay anh chị trong ngành ngân hàng: Hà Văn Thắm, Trầm Bê, Trần Bắc Hà lần lượt sa lưới. Tay dính dầu Trịnh Xuân Thanh, BT tpHCM Đinh La Thăng, và bé hơn một chút, Vũ “Nhôm” cũng không thoát. Gần đây nhất, CTN Trần Đại Quang bị nhiễm bệnh lạ và qua đời, sau cái chết giống đến lạ lùng của Nguyễn Bá Thanh mấy năm trước đó. Buổi chiều, ở Trung Nam Hải, ngồi nhâm nhi ly rượu Mao-Đài thượng hạng, có đứa bé bên cạnh đang chơi game chiến tranh robot, ông Tập cười một mình.

2024
Tháng 3-2019, VN tổ chức hội nghị Trump-Kim, người ta không thấy ở đó có bất kỳ một sự tương đồng nào giữa Mỹ và Hàn Cộng về vấn đề giải giới vũ khí hạt nhân, nhưng có thể thấy rõ một liên minh chặt chẽ giữa Trung Cộng-Việt Cộng-Hàn Cộng. 

Đối với Tập, Trump là một ông già bị bệnh khó ngủ, cứ khoảng sáng sớm là nhảy “tuýt” lung tung trên mạng xã hội. Trump cần một người trẻ hơn để đi dạo chơi, và cậu Un đã được Tập đề nghị để cùng thư giãn với ông Trump một chút. Sau đó, hai người Trump-Kim đã dắt tay nhau đi vòng vo ở Singapore và Hà nội, rồi… về.

Nếu Trump ngồi tiếp được ở Nhà Trắng thêm được một nhiệm kỳ nữa, ông cũng tiếp tục là một “ông già dễ mến” đối với Tập trong vấn đề VN. Việc duy trì chính sách “Một nước Mỹ vĩ đại là trên hết” là một sự hỗ trợ cho các chiến lược quốc tế đối với TC, bao gồm các chiến lược đối với VN.

Nếu Trump buộc phải rút lui, vị tân tổng thống Mỹ sẽ phải giải quyết các vấn đề mà Trump để lại, bao gồm các vấn đề pháp lý trong nội bộ nước Mỹ. Đây chính là thời điểm cho một BOT Việt Nam thiết lập trên con đường tơ lụa của TC.

Nguyễn Phú Trọng bước vào tuổi 80, có muốn gì nữa trời cũng không cho, nhưng nợ của Tập thì phải trả. Ngày 23/10/18, khi nhận chức CTN sau cái chết của Trần Đại Quang, ông Trọng lẩy Kiều rằng:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay


Những ngày tháng sắp tới có lẽ, ông phải nghe, từ ông Tập và nhiều phía khác, đối lại rằng:
Nghĩ mình phận mỏng tính chuồn (hả)
Nợ nần phải trả, không tròn biết tay (ta).

Nguyên Đại
16 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

01 March 2019

Trump - Kim: Ta không cần nhau

Cuộc hội đàm chính thức giữa TT Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Yong-un chính thức bắt đầu vào 9h sáng ngày 28/2/2019 đến 1h30 chiều thì hai bên bỏ về, bỏ luôn bữa cơm trưa đã được chuẩn bị chu đáo, không có một thỏa thuận nào được ký kết.

Những ngày trước đó, toàn bộ tai mắt của hệ thống truyền thông quốc tế đều hướng về cuộc họp lần này, được tổ chức ở Việt Nam, một quốc gia cộng sản hy vọng trở thành “trung tâm hòa giải thế giới” như hệ thống truyền thông của đảng CSVN rêu rao.

Sau hội nghị lần đầu bất thành ở Singapore, lần này mọi người mong đợi một “thiên tài đàm phán” Donald Trump biểu diễn một pha “game” ngoạn mục để biến bán đảo Triều Tiên trở thành khu vực phi hạt nhân. 

Và, Trump cũng kỳ vọng như vậy, nên khi vừa tới nơi, đã ca ngợi Kim như là một “lãnh tụ vĩ đại”, bất chấp sự tàn bạo của Kim ngay cả với chính người thân của hắn, và với người Mỹ, không nhắc đến những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trên đất nước cộng sản sắt máu nhất thế giới này.

Thông thường trước khi các cuộc họp thượng đỉnh như thế này, các nhà ngoại giao, chuyên gia đàm phán của cả hai phía đi lại như con thoi để giải quyết các bất đồng của hai phía. Đa số các tranh chấp phải được bàn thảo và giải quyết trong giai đoạn này, để khi hai nhân vật chính ngồi lại, chỉ còn khoảng một vài điều cần phải thương lượng và hầu như cả hai đều sẵn sàng tương nhượng các khoản còn lại “nhỏ nhoi” này, nếu không nói là cuộc gặp mặt chỉ là hợp thức hóa các thỏa thuận trước đó bằng văn bản dưới sự chứng kiến của truyền thông.

Trước những cuộc họp như vậy, thường truyền thông sẽ được thông báo ít nhiều về những thỏa thuận cơ sở. Lần này, mặc dù sau lần thất bại ở Singapore, phía truyền thông cũng không được cho biết về những thỏa thuận cụ thể ở hai phía. Truyền thông có thể nghĩ là hai bên đã có nhưng họ không được thông báo, chứ không nghĩ tới chuyện “không có gì”.

Thực chất là đã không có bất kỳ một thỏa thuận cụ thể nào cả giữa hai phía. Sau cuộc họp, giới truyền thông mới “ngã ngữa” vì không thể không công nhận một sự thật như vậy. TT Trump buộc phải thừa nhận rằng, Mỹ và Bắc Hàn vẫn không thỏa thuận được về “định nghĩa chính xác của việc giải trừ vũ khí hạt nhân” (“US and North Korean officials remain at odds about the precise definition of denuclearization”). 

Sẽ là một sự ngây thơ, hay quá tự tin, khi nghĩ rằng chỉ bằng một vài cuộc gặp mặt ngoại giao, Kim sẽ cho phá hủy hoàn toàn các kho vũ khí hạt nhân của họ, giải tán các cơ sở tinh luyện, và rút khỏi các chương trình thử nghiệm.

Như trường hợp giữa Mỹ và Liên-Xô cũ cho dầu các văn bản giải trừ chạy đua vũ trang vẫn còn hiện hữu, bất cứ ai cũng không tin rằng, họ nghiêm chỉnh thi hành những điều họ đã ký kết. Tất cả các cam kết giữa quốc tế, nhất là giữa các quốc gia đối lập, chỉ có tính cách tương đối vì nhân loại vẫn chưa có được một “Tòa Án” đủ sức cưỡng hành, và trừng phạt một cách hiệu quả các vi phạm.

Hiệp Ước bất tương xâm giữa Hitler và Stalin bị xé bỏ dễ dàng sau đó, khi Hitler bất ngờ mở mặt trận phía đông thời chiến tranh thế giới thứ hai. Nhân loại cũng không giải quyết được vấn đề Stalin, về việc tại sao Stalin lại ký kết hiệp ước đó, vào thời điểm đó. Gần hơn, đối với Việt Nam, có ai còn tin thỏa ước ngưng bắn giữa VC và VNCH trước Tết Mậu Thân 1968, hay Hiệp Định Paris năm 1973 ngăn cấm việc CS Bắc Việt xâm lược miền Nam Việt Nam.

Hy vọng nhiều thì thất vọng càng lớn hơn, khi Kim yêu cầu, rất rõ ràng rằng, phải hủy bỏ toàn bộ cấm vận đối với Bắc Hàn; họ Kim lại, rất không rõ ràng, trong việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Kim chỉ đồng ý việc “bắt đầu tháo dỡ” (“begin dismantling”) cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân ở Yongbyon. 

Mỹ thì bảo “chưa đủ”, và dĩ nhiên không nói thêm chi tiết là “còn mấy kho khác nữa”, và Kim thì đâu có khai thêm vị trí, tầm cỡ của những kho khác. Trump cũng không thể cho Kim biết là Mỹ biết những kho khác nằm ở đâu, bởi đó là những tin tức tình báo rất khó kiểm chứng. Những kho vũ khí khác của Kim đâu có dán bảng hiệu “Quân Đội Nhân Dân”.

Họ Kim định chơi một ván tháu cáy: OK, sẽ hủy bỏ, mở cửa những kho cũ thời “Napoleon còn mặc quần đùi”, giữ lại các kho hiện đại, không mất gì nhưng được tất cả, nếu Mỹ giải trừ toàn bộ cấm vận.
Trump hy vọng với “ba tấc lưỡi” có thể làm một người vĩ đại trong lịch sử nhân loại, nếu Kim cho tháo dỡ tất cả các kho vũ khí hạt nhân.

“Đời không như là mơ” nên cả hai Trump-Kim đều phải bỏ về, làm Tổng-Chủ “trung tâm hòa giải thế giới” tiu nghỉu, và chưng hửng.

“Nếu muốn hòa bình, chuẩn bị chiến tranh” (“If you want peace, prepare for war”) là một câu ngạn ngữ Latin, được Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt trong Thế Chiến Thứ Hai nhắc lại với ý: Nói nhẹ nhàng, nhưng đem theo một cây gậy lớn (“Speak softly and carry a big stick”). Với Tổng Thống Ronald Regan: Chúng ta biết nhân loại khao khát hòa bình, nhưng hòa bình không tự nhiên tồn tại, nó tùy thuộc vào sự can đảm của chúng ta để xây dựng, giữ gìn và chuyển đến các thế hệ sau (Nguyên văn: “We know that peace is the condition under which mankind was meant to flourish. Yet peace does not exist of its own will. It depends on us, on our courage to build it and guard it and pass it on to future generations”).

Kim sẽ giữ những đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn trong kho chừng nào mà gã còn hiểu rằng hệ thống phòng thủ và phản công của Mỹ sẽ rất hiệu quả. Và, thực ra, Kim không cần hòa giải với Mỹ, vấn đề Bắc Hàn không phải đến từ bất kỳ quốc gia nào khác, mà là đến từ chính người dân Bắc Hàn, nếu Kim bắt đầu cởi trói cho họ, và thực tâm hòa giải với người anh em phương nam của họ. Kim không cần Mỹ. Kim cần sự thay đổi của chính Kim, và đồng đảng của Kim.

Không có con đường tắt cho hòa bình. Hòa Bình là một con đường, không phải là một đích điểm. Chừng nào sức mạnh quân sự của Mỹ và Đồng Minh còn đủ sức ngăn chặn chiến tranh, chừng đó nhân loại, về cơ bản, còn đi trên con đường hòa bình. Hai ngàn năm trước, Đại Đế La Mã Hadrian nói: Hòa Bình bằng Sức Mạnh, nếu không, thì bằng sự đe dọa (“peace through strength or, failing that, peace through threat”). Lịch sử nhân loại đã minh chứng cho sự thật đó.

Nguyên Đại
2 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook