26/04/2019

Đông Lào diễn nghĩa (Phần 2)

Đông Lào Diễn Nghĩa - Phần 2

Nguyên Tác:                   La Quá Hạ
Dịch, Chú, và Bình:     Nguyên Đại

(Tiếp theo phần 1)

Hồi Thứ 44
Trực chỉ Kiên Giang, Lu vương té ghế
Đông Lào lật chủ, Phát tể thế thân


Lu vương từ từ mở mắt, “chúc mừng bệ hạ” quan ngự y và các y công đồng loạt xướng lên, nói cười râm ran. “Đây là đâu và các ngươi là ai?” Lu vương thều thào hỏi, mọi người tranh nhau tâu, nhưng cuối cùng thì nhường lời cho quan ngự y rằng: bệ hạ đang ở Kiên Giang phủ thì bất ngờ ngã quỵ, chúng thần vội vả đưa bệ hạ về phủ y-quán, sau đó đưa bệ hạ về đây. Đoạn, quan ngự y bảo mọi người ra ngoài để Lu vương nghỉ ngơi.

Nằm một mình, Lu vương cố nhớ lại mọi việc: tại sao ta lại ngã quỵ vào đúng ngày này? Trước đó vài hôm Mẫu hậu đã can rằng, hãy đợi thêm vài ngày để tổ chức mừng thọ cho ta, nhưng được tin của Thám quan, ta đã quyết trực chỉ Kiên Giang phủ, để cha con tên tặc thần Tấn Dung không kịp trở tay.

Nào ngờ… Không lẽ thám quân, thám quan của ta có vấn đề? Ngự y đoàn đã cho ta uống loại thuốc gì? Ta nhớ là cũng không có gì đặc biệt, dường như là có thêm một qườn thuốc cảm vặt, không lẽ chuyện là ở đây? Ngự y đoàn của ta có vấn đề? Không đâu, nếu mà có, mạng của ta đâu còn tới bây giờ. Nhưng, cũng có khi tụi nó bất cẩn; hay là… Lu vương cố mím môi. Không lẽ nào, tên tặc thần Tấn Dung không dại gì hại ta ngay ở tại nhà hắn ở Kiên Giang phủ, cái đầu của thằng con nó cứng hơn lưỡi đao trảm quan của ta sao? Hoặc giả, nó có liều mạng, hay hư hư thật thật, tương kế tựu kế chăng?

Nghĩ liên thuyên, đoạn Lu vương bất giác rùng mình… Không lẽ lại là lão Bằng (Hoàng Đế Cán Bằng của đại quốc Lũ-Tau). Nếu thật vậy, mạng của ta nguy rồi. Không lẽ việc ngọn đèn thứ ba, phía nam bị tắt trong lăng Thái Tổ đêm nào lại ứng rằng: mạng của ta phải kết thúc ở vùng hải địa ba đào Kiên Giang, kiêng gió này sao?

Lu vương mở mắt nhìn không chớp lên trần y quán. “Khuôn xanh nào biết vuông tròn mà hay”, quả thật đời người qua nhanh; thoáng chốc, hình hài, màu sắc đã đổi thay, nào ai biết, nào ai hay. Lúc ta còn đứng vuông vức, hiên ngang ở Kiên Giang phủ, một màu chói đỏ. Chớp mắt, giờ đã ở đây xung quanh là những chai lọ ngổn ngang, tròn trịa, và chỉ còn những màu xanh, trắng. Màu đỏ nơi đây là màu của tử thần, của sợ sệt, lo âu…Chợt có người vào báo, có quân sư Trần Vượn đến viếng. Lu vương cho mời vào.

Lu vương cho đuổi hết mọi người ra, chỉ để lại hai cận vệ tin cẩn nhất, y công cũng được cho lui ra ngoài mấy trượng. Lu vương nghe quân sư báo lại nội vụ, nghĩ đoạn, rồi hỏi: theo ý quân sư, ta nên như thế nào? 

Trần Vượn hạ giọng: Tạm thời bệ hạ cứ ở đây nghỉ ngơi một thời gian, thần sẽ theo ý chỉ của bệ hạ làm một số việc: lệnh cho tất cả cận thần phải hoàn toàn tuyệt đối giữ bí mật về sức khỏe của bệ hạ. Chừng nào mà thần sắc của bệ hạ còn là một bí mật, thì chừng đó những kẻ đối nghịch với bệ hạ còn tranh cãi, phân vân về những bước kế tiếp của bọn chúng, ta như người ở trong tối, ẩn mình quan sát tình hình cho kỹ, không nên vọng động.

Lu vương gật gù, đoạn thở dài, rồi rằng: Ta còn nhiều việc muốn làm, ta không cam tâm, chừng nào mà tên tặc thần Tấn Dung và bè lũ của nó còn nhởn nhơ cười cười nói nói… Trần Vượn tiếp lời: Bệ hạ là bậc minh quân, tặc thần Tấn Dung không thể sánh được với bệ hạ, trời sẽ cho bệ hạ sức khỏe để diệt nó. Lu vương cười, có chút mếu máo, vì phần miệng và nửa người bên trái không được toại ý. Trần Vượn đỡ Lu vương dậy, và định lấy chén sâm đưa cho Lu vương, nhưng Lu vương lắc đầu, ý là không cần.

Lu vương có ý kêu Trần Vượn tới gần hơn để nghe cho rõ, rồi tiếp: Ta muốn ngươi giúp ta một việc: Triệu tập các chỉ huy ngự lâm quân mở cuộc điều tra toàn diện đối với thám quân, vệ binh, ngự y đoàn và dĩ nhiên là tất cả những người trong Kiên Giang phủ, trực tiếp và gián tiếp có liên hệ tới các cuộc tiếp xúc với ta trong suốt thời gian ta ở Kiên Giang phủ và ngay cả nhiều ngày trước đó, ta muốn ngươi, đích thân ngươi, thừa ý chỉ của ta, rà xét lại toàn bộ mọi việc.

Trần Vượn gật đầu: Thần tuân lệnh. Lu vương nói nhỏ, ngay cả tên Phạm Chính cũng không được bỏ qua, hừm… nói gì là “ngọn đèn thứ ba…”. Trần Vượn dường như không hiểu câu cuối cùng, liên quan gì đến đèn đuốc??? Lu vương xua tay, ồ… không cần đâu, không quan trọng. Trần Vượn xin phép lui ra.

Đi được ba bước, như chợt nhớ ra điều gì, Lu vương vội ra dấu cho vệ sĩ gọi Trần Vượn quay lại. Đoạn Lu vương nói tiếp: mọi việc khác ngươi cứ việc thay ta, nhưng tuyệt đối không nên gặp lão Bằng, hắn có thể giết ta không được, tức mình hại ngươi luôn, thì nhà Lu của ta nguy mất. Trần Vượn cũng vừa chợt nhớ ra, còn một việc quan trọng chưa thỉnh ý Lu vương, ai sẽ thay Lu vương sang gặp Bằng lão hoàng đế. Lu vương nói nhỏ: ngươi không được đi, như ta đã nói, nên sắp xếp để cho Niêng Phát tể tướng đi thay ta.

Trần Vượn đã biết ý Lu vương, nhưng giả bộ nhìn Lu vương, để Lu vương nói ra cho chắc ăn. Lu vương cười (cũng còn chút mếu máo): bảo nó đi, nếu lão Bằng có nổi điên mà giết nó, thì coi như lão giúp ta, nhưng ta nghĩ lão không giết thằng “trẻ con cao tuổi” này đâu.

Lu vương chợt nhìn xa xăm… nhớ lại lúc chính lão Bằng đã có ý muốn Niêng Phát thay chỗ của Tấn Dung. Lu vương nói tiếp: Ta muốn mỗi ngày, người vào đây thăm ta một lần. Trần Vượn hiểu ý, dạ thật to, rồi xin phép cáo từ.

Lu vương cố gắng lắm, mỗi ngày cố gắng đi lại, ban đầu trong phòng, rồi dần dần ra hành lang, đi đi lại lại, ngắm các cây bon-sai trong vườn y quán. Lu vương bảo với quan ngự y rằng: Hãy nói với các quan trong triều, những người muốn gặp ta, là ta chưa được khỏe. Ta không muốn tiếp ai cả, người nào ta muốn gặp, ta sẽ báo cho ngươi biết. Ngự y vâng dạ.

Lu vương có nhiều thời gian hơn, không còn gặp quá nhiều người, nghe, đọc nhiều tấu chương, chợt cảm nhận hạnh phúc của một lão gia vui thú điền viên, không màng đến thế sự… Nhưng chỉ là vài phút thoáng qua, còn thì không thể quên được khi nhớ lại cái cảm giác té quỵ trong Kiên Giang phủ, lẽ nào “trời đã sinh Lu, sao còn sinh Tấn”. Không thể nào: Gia Cát là thần nhân, còn thằng Tấn Dung đâu có xứng. Ta còn sống, là trời còn thương, ta phải bắt nó tống vào thiên lao, thì ta mới cam lòng nhắm mắt đời này.

Trần Vượn làm y như vậy, mỗi ngày vào thăm Lu vương một lần, báo cáo tình hình. Có một ngày, Trần Vượn không vào, hôm sau mới vào, Lu vương gặp Vượn nhướn mày, có ý hỏi. Trần Vượn vội vàng tâu, xin bệ hạ tha tội, nguyên lão tam triều, tướng Bùi Lang vừa qua đời hôm qua, nên thời biểu của thần có chút xáo trộn. 

Lu vương cười gằn từng tiếng: lão già độc nhỡn đó bây giờ mới chịu chết à, không vì hắn kỳ-đà cản mũi che chở cho gian tặc Tấn Dung thì ta đã giải quyết xong thằng Tấn lâu rồi, không phải đến bây giờ, chưa bắt được được nó, mà phải té quỵ trong phủ của nó mới tức chứ!

Trần Vượn thấy Lu vương giận quá, không dám nói gì. Chờ cho Lu vương nguôi giận bèn tiếp, nhưng mà tang lễ của nguyên lão tam triều cần hoàng thượng đứng làm chủ lễ, đó cũng chính là điều quan trọng mà thần muốn thỉnh ý bệ hạ hôm nay.

Lu vương ngồi trầm ngâm một chặp khá lâu, nghĩ bụng: ta còn có thể đi lại được, mà không đứng ra làm chủ việc này thì không ổn. Tục lệ Đông Lào từ bao năm nay không thể bị phá trong tay ta. Nhưng đứng ra làm chủ lễ trong tình trạng chân miệng bất toại như thế này không khéo lại làm cho lũ phản tặc hả hê, ta thật không cam lòng. 

Ta cũng không thể lưu lại ở đây quá lâu, các vụ điều tra không hiểu vì sao tiến hành quá chậm chạp, không thấy có kết quả gì. Hay là bệnh già? Ồ, không đâu, vua nước Ma-Lày hơn ta những 19 tuổi, ta không sao đâu, Lu vương tự nói với mình. Người xưa cũng nói, nước không thể một ngày không vua, ta cũng không thể ẩn ở đây quá lâu, quan quân nghi ngờ, sinh biến loạn.

Nghĩ đoạn, Lu vương cười cười nói với Trần Vượn rằng: quân sư yên tâm, ta sẽ đích thân làm chủ vụ này, ta nghỉ ngơi cũng đủ rồi, giờ là lúc phải ra mặt để ổn định tình hình và tiếp tục các trận hỏa công còn dang dở, ta phải thắp đèn, và quân sư phải giúp ta chuẩn bị bài vị cho cái tên phản tặc. Đông Lào đang mùa hè nên lửa phải tiếp tục cháy.

Trần Vượn chợt rút khăn tay thấm mồ hôi vì trời nóng quá… và thấm luôn cả mồ hôi lạnh, vì bất chợt y cảm thấy rùng mình.

Nguyên Đại
26 Tháng Tư 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

23/04/2019

Đông Lào diễn nghĩa (Phần 1)

Nguyên tác:                   La Quá Hạ
Dịch, chú và bình:         Nguyên Đại

Hồi thứ nhất

Giữa triều cô thế Lu vương bật khóc
Lạm quyền Dung tể khảy móng tay ca

Đệ Tam Thiên Niên, năm thứ 12, vua xứ Đông Lào bấy giờ họ Lu, tên là Trong là người đã cao tuổi, bề ngoài nhìn hiền lành nên được một số cận thần rất yêu kính. Tuy vậy, có số khác, số này đông hơn, lại cho là quá nhu nhược, nên thường thậm thọt, chạy sang phủ phục trước dinh Tể Tướng thời bấy giờ họ Tấn, tên là Dung.

Tấn Dung ít tuổi hơn Lu vương, dung mạo sáng sủa, nhưng có nhiều thủ đoạn vơ vét công quỹ, và dùng những của cải đó để kết bè kéo cánh gây thế lực, trên coi Lu vương không ra gì, dưới dung túng cho thuộc hạ nhũng nhiễu dân lành. Lu vương đau lòng lắm, đã nhiều lần tìm cách bớt đi quyền hành của Tấn Dung, nhưng lần nào cũng bị Tấn Dung biết trước, nên kế hoạch không thành.

Lu vương buồn lắm, nhưng không làm gì được. Mọi việc đã có Tấn Dung một tay ngang tàng che trời làm loạn. Ngày nọ, Lu bèn vào lăng Thái Tổ, thắp nhang, khóc mà rằng: Bớ Thái Tổ, ngài có linh thiêng, xin giúp tiểu tôn diệt trừ tặc thần Tấn Dung, kẻo bằng nó phá nát sự nghiệp vĩ đại mà Tổ đã để lại, tử tôn đã không tiếc xương máu của dân, mà gắng sức gìn giữ từ bao năm nay.

Tương truyền nước Đông Lào đã học được cách ướp xác người chết của người Ngã-sa, nên xác của Thái Tổ, họ Lu (dĩ nhiên là cùng họ với Lu vương) tên là Ai-Quấc, thoạt nhìn vẫn tươi tắn, hồng hào như những hình giả-nhân, bằng loại chất rất lạ giống như đồ chơi của bọn trẻ con ngoại tộc (giống như búp bê làm bằng nhựa – chú thích của dịch giả). Lăng Thái Tổ được thiết kế công phu, bình thường không cho ai vào, có mấy đội lính gác, ước đoán hơn trăm người, mỗi ngày đi qua đi lại, giáo gươm sáng quắc, quần áo chỉnh tề, giữ nhiệm vụ gác lăng.

Vì Thái Tổ mất đã gần ngũ thập niên (50 năm), nên đã có dòng họ ba đời gác lăng: ông nội gác lăng, bố gác lăng, rồi đến lượt con trai cũng gác lăng. Dĩ nhiên công việc gác lăng này không phải giao cho ai cũng được, phải là thành phần cẩn cẩn trung thành với nhà Lu. Chẳng hạn như ông nội phải là người theo Lu Thái Tổ phò ngoại xung nội, thanh Bắc diệt Nam; bố phải là thành phần trung kiên với nhà Lu, rồi bây giờ tới lượt con, mới được giao cho trọng trách này. Dân chúng vào thăm lăng Thái Tổ, nhìn những thanh niên khỏe mạnh, giáo gươm sáng quắc, mặt lạnh như tiền, thấy vừa sờ sợ, vừa thương cảm.

Chỉ có vua và quan cận thần mới được lưu lại trong lăng Thái Tổ lâu hơn, dân chúng vào những dịp lễ lạc, mới được cho viếng lăng, và phải sắp hàng rồng rắn nối đuôi giữa sân nắng nóng rất lâu mới được vào. Khi vào được đến chỗ Thái Tổ nằm, chỉ được phép đi qua nhìn Thái Tổ nằm thẳng cẳng với đôi hia cổ bốn-quai nhìn rất biệt dị, ngài được lộng trong lồng bằng thủy tinh đặc biệt; dân chúng vừa đến lồng kiếng là phải đi qua luôn chứ không được phép dừng chân, người nào cả gan mạo phạm dám dừng lại bên lồng Thái Tổ nằm để ngắm nghía, soi bói, sẽ bị các lính gác với khuôn mặt lành lạnh, tới nhắc nhở ngay.

Thái Tổ băng hà, vào ngày trùng, nên tương truyền rất linh thiêng. Tục truyền, khi Thái Tổ còn tại vị, nhiều vị phu nhân của các cận thần đôi khi cũng được đặc cách gặp riêng Thái Tổ, nên khi ngài qua đời, nhiều quan chức, kể cả các vị phụ-mẫu phu nhân, có việc gì khó không giải tỏa được cũng có thể vào xin ý chỉ của ngài. Chuyện lăng Thái Tổ còn dài, rất nhiều giai thoại dân gian về sự linh thiêng của Thái Tổ, xin được kể vào những hồi sau.

Lại nói về Lu vương, sau khi thắp nhang, khóc lóc cầu cứu Thái Tổ, một hồi lâu, vì tuổi cũng đã cao, nên thiếp đi chừng một khắc, chợt đâu tiếng gió làm lay động nhẹ cửa ra vào phát ra âm thanh kèn-kẹt, như vừa có người đẩy cửa bước vào, Lu vương giật mình tỉnh dậy thì không thấy ai, chỉ thấy một cơn gió thoáng qua làm các ngọn đèn phía bắc như sáng hơn, và ngọn đèn thứ ba ở phía nam tắt đi. Lu vương đứng dậy quày quả đi ra, sau khi vái Thái Tổ đúng bốn lạy, rồi bảo lính thắp đèn lại cho tươm tất.

Vài hôm sau, Lu vương quên bẳng chuyện đã xảy ra trong lăng Thái Tổ, vì bận phê duyệt các tấu chương chuẩn bị cho ngày họp các triều thần đã gần kề. Tới ngày họp, khoảng cuối năm thứ 12 (chừng tháng 10), giữa cuộc họp có mặt đông đủ các triều thần, Lu vương bấm gan nói lớn, kể ra các trọng tội của Tấn Dung, nào là lập bè kết lũ, rút ruột công quỹ, mua các chiến thuyền đã mục nát, rệu rã ở xứ Ngã-sa bằng rất nhiều ngân lượng, nào là cố tình làm thất thoát tài sản quốc gia để chiếm đoạt làm của riêng, coi trời bằng vung, nào là chiếm dụng đất đai của dân lành để lập trang trại ăn chơi, v.v…

Lu vương đã định xướng tên Tấn Dung ra, nhưng khi nhìn qua thân tín của mình, thấy họ lắc đầu liên tục, và nhìn xuống các triều thần thì nhiều kẻ a-dua nịnh nọt cứ nhìn Tấn Dung cười cười ra chiều đắc ý, vài người ít oi từng được ơn dày của nhà Lu đã mấy đời thì lấm lét nhìn xuống như muốn rơi lệ và tránh cái nhìn của Lu vương. Lại nhìn sang bên Tấn Dung, thấy nó đang giả bộ như khảy các đồ dơ trong các móng tay, Lu vương vừa giận vừa buồn rầu, không cầm được, nghẹn ngào, rồi bật khóc thành tiếng. Triều thần ngơ ngác, có người kín đáo kéo tay áo lau nước mắt khóc theo Lu vương. Phiên chầu hôm đó đành phải ngưng lại.

Sau này, khi bị triều thần gạn hỏi, tên của tên tặc thần mà Lu vương muốn nói là ai; quan Ngự Sử bấy giờ họ Tràng tên Sảng, sau khi nhìn quanh đã nói nhỏ và nhanh quá, nghe như là “a-iết” (ý là “ta biết” – chú thích của người dịch), không hiểu sao các triều thần nghe như là “ba-ếch”. Từ đó biệt danh “Ba-ếch” đã được mặc nhiên coi như một tên thứ hai của Tể tướng Tấn Dung.

Vài ngày, sau phiên chầu thất bại đó, Lu vương đang ngồi một mình, chợt có lính vào báo có quan Thượng thư bộ Lễ, họ Phạm tên là Chính, đến thăm. Phạm Chính là một trong số ít cận thần thân tín của Lu vương, nên Lu vương cho lính mời vào. Được một tuần trà, Lu vương bổng nhớ lại chuyện xảy ra chưa quá một tuần trăng bên lăng Thái Tổ. Phạm Chín ngồi im ra chiều như suy nghĩ đăm chiêu, mông lung lắm, bổng hạ giọng nói nhỏ với Lu vương, rằng:

– Thái tổ có ý chỉ đường cho bệ-hạ, này nhé: Các ngọn đèn ở phía bắc bổng sáng lên, ý là cứu tinh của bệ hạ đến từ phía bắc, xin bệ hạ tha tội, phía bắc nước ta là nước Lũ-Tau, gần đây đã ngưng quấy phá biên giới phía Bắc của ta, và có ý kết giao để tương trợ nhau. Thái Tổ lúc còn trị vì có quan hệ rất thân thiết với hoàng đế nước Lũ-Tau thời đó là Mào Trạch, chắc bệ hạ còn nhớ?

Lu vương gật gù. Phạm Chính giả vờ trầm ngâm nhưng mắt không ngừng quan sát sắc mặt của Lu vương, khi thấy cá đã có vẻ cắn câu, bèn tiếp:

– Thần có quen biết với một chức sắc, hắn có nhiều liên hệ với nước Lũ-Tau, để thần tiếp cận hắn xem sao.

Lu vương cười tươi hơn chút. Biết đã chắc ăn, nên Phạm Chính quăng tiếp:

– Còn ngọn đèn thứ ba, hướng nam, chợt tắt, là điềm lành. Tấn Dung sinh ở phủ Kiên Giang, thuộc miền Nam nước ta, là vùng đất có nhiều sóng gió ba đào, ngọn đèn thứ ba tắt, ý Thái Tổ đã rất rõ ràng, là ngài linh thiêng sẽ phù trợ cho bệ hạ diệt Tấn Dung.

Lu vương cười lớn thành tiếng “Thuận thiên thừa… vận” “đã hợp lòng trời”. Hai bên hàn huyên vài chuyện nho nhỏ, không quan trọng lắm, rồi thì Phạm Chính cáo từ, Lu vương tiễn ra tận cửa. Hôm đó, lần đầu tiên sau nhiều tháng, Lu vương ngủ được một giấc rõ dài.

Nguyên Đại
23 Tháng Tư 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

17/04/2019

Diễn Văn 30/4 ?

“Tám mươi bảy năm trước, cha ông ta đã khai sinh một quốc gia mới trên lục địa này, dựa trên nền tảng của tự do và bình đẳng cho tất cả mọi người.

Chúng ta bước vào cuộc nội chiến thách thức sự tồn tại lâu dài của quốc gia này. Chúng ta gặp nhau trên chiến trường và nơi đây trở thành chốn yên nghỉ cuối cùng của nhiều người, để cho quốc gia này được tồn tại. Tất cả chúng ta đều đã làm đúng những gì mà chúng ta phải làm.

Nhưng, trong nghĩa rộng hơn, chúng ta không thể biến đất nước này trở thành một linh địa. Chính những con người anh dũng, dầu đã ngã xuống hay còn sống hôm nay, đã chiến đấu nơi đây đã làm cho vùng đất này trở thành một linh địa. Thế giới này sẽ mau chóng lãng quên những điều chúng ta nói ở đây hôm nay, nhưng sẽ không bao giờ quên được những hy sinh của họ nơi đây. Họ đã chiến đấu, với danh dự cao cả, cho cuộc sống của chúng ta và để chúng ta tiếp tục những công việc còn dang dở của tất cả chúng ta.

Chúng ta ở đây hôm nay vinh danh những nhiệm vụ vĩ đại của những người đã danh dự ngã xuống và sẽ tiếp tục phát triển những cống hiến của họ đến mức cao nhất, để những hy sinh của họ không trở nên oan uổng. Và đất nước này, dưới sự che chở của Thượng Đế, tự do được tái sinh – một chính phủ của tất cả người dân, do người dân tạo ra, và vì người dân – sẽ không lụi tàn trên mặt đất.”

Đó là bài diễn văn của kẻ chiến thắng 30/4/1975? Đúng một nửa.

Nửa đúng là diễn văn của lãnh tụ bên thắng cuộc.

Và, nửa còn lại là: đó là bài diễn văn của Tổng Thống Abraham Lincoln (bản tạm dịch của người viết) đọc vào ngày 19/11/1863 trên lộ trình kết thúc cuộc nội chiến Bắc-Nam của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Cuộc chiến giữa Liên quân các tiểu bang miền Bắc nước Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Lincoln, và tổng chỉ huy của tướng Ulysses S. Grant, là người sau này trở thành vị tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ, và quân đội của các tiểu bang miền nam nước Mỹ dưới sự chỉ huy của tướng Robert E. Lee. Các tiểu bang miền Nam chủ trương duy trì giai cấp nô lệ, trong khi các tiểu bang miền Bắc chủ trương sự bình đẳng cho tất cả mọi người.

Bài diễn văn đã đi vào lịch sử nhân loại bởi vì: (1) rất ngắn, chưa tới 300 chữ; (2) không có một từ ngữ nào về chiến thắng; (3) vinh danh những người đã hy sinh từ hai phía của cuộc chiến, họ – tất cả họ – đã anh dũng, và danh dự ngã xuống cho sự tồn tại của Hoa Kỳ, bao gồm vị Tổng Thống Abraham Lincoln, là người đã bị một tay súng ủng hộ liên quân miền Nam ám sát bằng súng vào vào ngày 14/4/1865, chỉ 5 ngày sau khi quân đội miền Nam đầu hàng liên quân miền Bắc.

Hơn một tháng sau, ngày 1/6/1865, khi tiếng súng chiến tranh thật sự im bặt, Thượng Nghị Sĩ Charles Sumner đã viết rằng, Tổng Thống Lincoln đã có một “nhầm lẫn” khi nói rằng: “thế giới này sẽ mau chóng lãng quên những điều chúng ta nói ở đây hôm nay”, bởi, khác hơn là, “thế giới đã ghi nhận lập tức những điều ngài đã nói, những trận đánh, tự bản chất của nó, đã không còn quan trọng bằng những lời lẽ này của ngài”. Ông Sumner đã phán đoán chính xác, nhân loại không bao giờ quên những lời lẽ đó của Tổng Thống Abraham Lincoln.

Những lời lẽ ngắn gọn đó có sức mạnh khép lại tất cả những bất đồng, hướng đến việc chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, với hơn 750 ngàn binh sĩ tử trận từ hai phía chiến tuyến, chưa kể những thường dân. Những lời lẽ đó định vị cho một tương lai chung cho mọi người trên đất Mỹ, cho tất cả mọi người từ hai phía của cuộc chiến. Và, nhiệm vụ của tất cả những người còn sống là xây dựng một chính phủ của tất cả người dân, vì tất cả, và cho tất cả người dân.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua (1863-1975), những người “chiến thắng” – những người Việt cộng sản – quả thực không học hỏi được điều vĩ đại đó từ lịch sử nhân loại. Hơn 150 năm sau, họ – vẫn cứ huênh hoang trên xương máu anh em, vẫn cứ khoét sâu những rạn nứt tương tàn, và loay hoay với những giáo điều không tưởng, dối trá.

Chừng nào mà những “ngợi ca”, những “hồ hởi”, những “tự sướng”, còn tung bay như những ngọn cờ thấm máu đồng bào trên các nẻo đường của quốc gia này, chừng đó dân tộc này còn thất bại. Thất bại bởi không học hỏi bài học hy sinh, bài học tương tàn, bài học về sự khác biệt, bài học con người.

Nguyên Đại
17 Tháng Tư 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

31/03/2019

Ánh Sáng và Bóng Tối

Thành phố Melbourne, tháng Ba này có 3 sự việc được dư luận chú ý đều liên quan đến tôn giáo.

Vụ thứ nhất: 
Hôm 13/3/19, Chánh Thẩm Phán Tòa Trung Thẩm Melbourne tuyên án ông George Pell sáu năm và tám tháng tù về tội xâm phạm tình dục trẻ dưới 16 tuổi vào thập niên 90. Hồng Y George Pell là chức sắc cao nhất của tòa thánh La Mã bị tuyên bố là có tội liên quan đến việc xâm hại tình dục trẻ em.

Ông Pell thụ phong chức linh mục từ năm 1966, từng giữ chức Chủ tịch Caritas Australia, một tổ chức thiện nguyện giúp đỡ nhiều người tỵ nạn Việt Nam ở các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Ông nhận chức Tổng Giám Mục Melbourne năm 1996, và sau đó Tổng Giám Mục Sydney năm 2001, hai năm sau ông thụ chức Hồng Y. Từ năm 2014, ông Pell được mời làm Cố vấn Kinh tế cho Đức Giáo Hoàng Francis, và đã được coi như một trong ba ứng viên sáng giá nhất cho ngôi vị Giáo Hoàng trong tương lai.

Ông Pell là tác giả của nhiều cuốn sách viết về tôn giáo, và phụ trách chuyên mục tôn giáo của tuần báo lớn Sunday Telegraph Sydney. Ông được chính phủ Úc trao huy chương Centenary Medal, thừa nhận những đóng góp của ông cho xã hội Úc, và được phong danh hiệu Companion of the Order of Australia, một danh hiệu do Nữ Hoàng Elizabeth II ban từ năm 1975, dành cho những người tài giỏi và có nhiều đóng góp cho xã hội.

Khi giữ chức Tổng Giám Mục Melbourne, ông Pell đã thành lập nhóm chuyên tác để điều tra và giải quyết các khiếu nại về xâm hại tình dục trẻ em liên quan đến nhà thờ Công giáo trong địa phận Melbourne. Trên cơ sở đó ông chỉ ra những thất bại trong quá khứ của các chức sắc giáo hội trong việc bảo vệ trẻ em khỏi những xâm hại tình dục ở nhà thờ, và chứng tỏ những cố gắng của ông với tư cách Tổng Giám Mục trong cuộc chiến chống lại sự xâm hại tình dục mà các nạn nhân là trẻ em.

Vì vậy, việc ông Pell bị tuyên án tù về tội xâm hại tình dục đối hai cậu bé trong ca đoàn, sau một thánh lễ vào Chủ Nhật, khoảng vài tháng đầu sau khi nhận chức Tổng Giám Mục địa phận Melbourne năm 1996, có thể nói như một cơn địa chấn đối với Giáo hội Công giáo ở Úc châu nói riêng, và người dân nước Úc nói chung.

***

Vụ thứ hai: 
Hai ngày sau khi bản án dành cho ông Pell được công bố trên phương tiện truyền thông như là một sự kiện lịch sử đối với giáo hội Công giáo, và luật pháp Úc, vào chiều ngày 15/3/19, một thanh niên 28 tuổi người Úc, Brenton Harrison Tarrant, đã xả súng bắn chết 50 người, và làm bị thương 50 người khác ở hai nhà thờ Hồi giáo ở thành phố Christchurch, thuộc Tân Tây Lan (New Zealand).

Dường như các bình luận gia của các tờ báo lớn chuyên mục tôn giáo của Úc chưa viết xong đoạn văn đầu tiên trong bài bình luận của họ về sự việc liên quan đến ông Pell, đã vội vả vác ba lô bay sang Tân Tây Lan để thu nhận tin tức mới nhất về vụ nổ súng gây chấn động một đất nước nhỏ bé nhưng xinh đẹp và yên bình này.

Hung thủ Tarrant sinh năm 1991 ở thị trấn Grafton, khoảng 500 cây số Đông-Bắc Sydney, tốt nghiệp trung học ở đây, sau đó làm huấn luyện viên trong các phòng tập thể hình ở địa phương. Năm 2012, Tarrant bắt đầu đi du lịch Á châu, và Âu châu. Tarrant quan tâm tới những di tích về cuộc thánh chiến giữa những người Công giáo và đế quốc Ottoman.

Tarrant tuyên bố chống lại sự can thiệp của NATO đối với các cuộc thảm sát người Hồi Giáo ở Kosovo, Anbania, và cho rằng đó là những cố gắng của người công giáo Âu châu nhằm đưa những người Hồi Giáo ra khỏi lục địa này. Tarrant cho phát hình trực tuyến (live-stream) 17 phút đầu tiên của vụ bắn giết trên trang mạng xã hội Facebook Live. 

Tarrant đã bị bắt, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau khi hắn bắt đầu cuộc thảm sát, trên đường chạy tới một nhà thờ Hồi Giáo thứ ba. Tarrant đối diện với tội mưu sát, đã ra tòa hôm 16/3 và sẽ ra tòa trở lại vào thứ Sáu tuần tới, ngày 5/4/19.

Thủ Tướng Ardern của Tân Tây Lan gọi đây là một ngày đen tối của đất nước này. Bà cho rằng đây là một vụ khủng bố đã được tính toán kỷ. Trong khi Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), ông Recep Tayyip Erdogan, cho chiếu đoạn băng ghi hình của Tarrant về vụ bắn giết tại cuộc tụ họp những người ủng hộ chính phủ của ông cho những cuộc bầu cử địa phương sắp tới. Các chính phủ Úc, Tân Tây Lan, và đảng đối lập Thổ đã phản đối Tổng thống Thổ về việc này.

***

Vụ thứ ba: 
Ngày 26/3/19, nhật báo lớn và uy tín nhất Melbourne, báo The Age đã lên khuôn bài “Buddhist monk who bet temple on high-risk property empire saved by $8m cash payment” (Tạm dịch: Nhà sư Phật giáo thế chấp ngôi chùa cho các đầu tư địa ốc có rủi ro cao đã được cứu nhờ 8 triệu đô tiền mặt được trả), viết về sư trụ trì ngôi chùa Linh Sơn của người Việt ở Reservoir cách trung tâm thành phố Melbourne khoảng 14 cây số. The Age cho đăng hình cổng ngôi chùa có dán bảng “Mortgagee now in possession” (Tạm dịch: Chủ nợ hiện sở hữu).

Theo The Age, có khoảng 2000 tín hữu thường đến ngôi chùa tọa lạc trên khu đất rộng 2.4 hec-ta này và năm ngoái số tiền cúng dường khoảng chừng $100 ngàn đô, sút giảm nhiều so với khoảng $400 ngàn đô trong năm 2013. Dù vậy sư trụ trì chùa, ông Nguyễn Đức Thắng, đã thế chấp ngôi chùa này cho các khoảng đầu tư đất đai bao gồm khu vực 10 hec-ta đất ở Melton South, và 63 hec-ta đất khác ở Mount Cottrell. Ông Thắng còn được biết đến với tên gọi Thầy Đạo (Master Dao) đến Úc từ Việt Nam năm 1992. Các nhà báo đã tìm cách liên lạc với ông Thắng sau đó, nhưng không gặp.

Ngôi chùa đã được dùng để thế chấp cho khoản nợ 8 triệu đô vào tháng 12/2017 với lãi suất lên tới 14.5%, đáo hạn trong vòng một năm. Ngôi chùa đã được cứu thoát khỏi sự tịch thu của chủ nợ nhờ khoản chi trả $8 triệu đô từ một “mạnh thường quân” (“A benefactor stepped in”). Theo bài báo, một nguồn thu của chùa đến từ việc cho thuê những căn hộ trong chùa, với quảng cáo “enlightened living” (tạm dịch: đời sống giác ngộ). Bài báo kết thúc với việc dẫn lời một tín hữu, nói rằng việc nhà chùa sở hữu nhiều bất động sản là việc rất đáng quan tâm, mục đích của chùa là phát triển Phật pháp, không phải là đầu tư đất để kiếm lời.

Vụ thứ ba, tuy không lớn bằng hai vụ trên, nhưng có lẽ không dừng hẳn ở đây, sẽ có sự tham dự của sở thuế, các nhà lập pháp và hành pháp tiểu bang và liên bang về các luật lệ liên quan đến nhiều ngôi chùa liên tục được xây dựng trong các khu vực có nhiều người Á châu bao gồm người Việt sinh sống ở khắp mọi tiểu bang trên nước Úc.

Nếu có một cây viết trên bàn, ai cũng sẽ đồng ý với câu: có một cây viết trên bàn. Nếu không có cây viết trên bàn, mọi người cũng sẽ gật đầu là không có cây viết trên bàn. KHÔNG và CÓ rõ ràng và đơn giản. Nhưng đối với tôn giáo thì vấn đề không đơn giản như vậy: trên và trong khoảng không bao la xung quanh con người, đối với người Công Giáo là sự hiện hữu của Chúa, với người theo đạo Phật giáo, đó là Phật Tổ, Phật Bà Quan Âm, và đối với người Hồi giáo là thánh Ala. 

Con người dễ dàng đồng ý với sự CÓ, nhưng không bao giờ có thể đồng ý về “cái” KHÔNG. Khoảng KHÔNG đó thuộc về niềm tin, và bởi nó là KHÔNG, nên sẽ không bao giờ có được sự đồng ý về điều gì tồn tại trong khoảng KHÔNG đó.

Nếu niềm tin của người Công giáo rằng miếng bánh làm bằng bột mì sau khi đọc kinh sẽ trở thành “mình” Chúa, và rượu đỏ sau khi làm lễ sẽ trở nên “máu” Chúa, và linh mục sẽ uống “máu” Chúa, và tín đồ sẽ ăn “mình” Chúa, và Chúa ở cùng với họ. 

Tương tự, đó là niềm tin đối với các tín đồ đạo Phật rằng việc cúi đầu phủ phục dưới những bức tượng làm bằng thạch cao, đất nung, xi-măng… có dáng hình ông Phật, hay Phật-Bà, thì những may mắn, an lành sẽ đến với họ. Và, cũng sẽ là một niềm tin đối với người Hồi giáo trong việc họ cầu nguyện mỗi ngày nhiều lần trước khi mặt trời lặn, có thể chỉ với bằng một vuông khăn trắng để quỳ trên đó, hướng về phía mặt trời và niệm kinh Koran, với hy vọng được thánh Ala ban cho sự bình an trong cuộc đời này.

Chúa của người Công Giáo, Phật của người Phật giáo, và thánh Ala của người Hồi Giáo, tồn tại trong niềm tin của mỗi tín đồ, bất kể thuộc tôn giáo nào, như là Thượng Đế. Thượng Đế của người Công Giáo, của tín đồ Phật giáo, và Hồi Giáo, v.v… có hình hài khác nhau, lời lẽ khác nhau. Những niềm tin khác nhau đối với những Thượng Đế khác nhau. 

Niềm tin thì không tính đến chuyện đúng-sai. Niềm tin thì không thể lý luận. Niềm tin thì không thể tranh chấp. Niềm tin tôn giáo là góc tâm linh riêng biệt của mỗi cá nhân. Một người tin vào Thượng Đế của mình và có thực hiện những điều mà Thượng Đế của họ dạy hay không, chỉ có họ mới biết một cách rõ ràng và đầy đủ. Thượng Đế không tranh chấp, bởi Thượng Đế là niềm tin.

Vấn đề là: Một số người đã sử dụng niềm tin vào Thượng Đế của những người khác để mưu cầu lợi ích cá nhân cho chính họ, cho đảng, cho phe nhóm của họ. Niềm tin khác với sự lợi dụng niềm tin. Niềm tin tôn giáo, và việc lợi dụng niềm tin tôn giáo là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Việc sở hữu con dao, và việc sử dụng con dao để hại người, cướp đoạt tài sản, sinh mạng của người khác là hai chuyện khác nhau.

Việc ông Pell bị kết án như nói ở trên là chuyện của riêng ông Pell và những người có dính dáng tới việc che chở cho hành vi xâm hại tình dục trẻ em ở nhà thờ. Một tín đồ Công giáo thuần thành sẽ không cảm thấy việc truyền thông loan tải những tin tức này như là một sự xúc phạm đến niềm tin của họ. Niềm tin của bạn là của bạn, nó còn hay mất là do chính bạn. 

Không ai có thể xúc phạm được niềm tin của bạn. Thượng Đế của bạn ở cùng với niềm tin của bạn. Gia đình, người thân, bạn bè, và đồng nghiệp của bạn đang cùng với bạn sống trong yêu thương, và những hành động nhân ái của bạn được hướng dẫn bởi niềm tin của bạn vào Chúa, vào Thánh Kinh Công Giáo.

Việc một thanh niên người Úc bắn giết những người Hồi Giáo, chỉ vì họ tin ở thánh Ala, Thượng Đế của người Hồi Giáo, là một hành động giết người vô tội. Điều đáng tiếc là một số chính trị gia của Úc lại lợi dụng việc này để kiếm phiếu bằng cách tấn công vào chính sách di dân của chính phủ đối với người tỵ nạn, khoét sâu những va chạm văn hóa, xã hội, giữa những người đã định cư lâu năm trên đất Úc và những người tỵ nạn vừa đến xứ sở này. Thượng Đế tồn tại trong niềm tin của mỗi người. Thượng Đế không bước vào nghị viện cho quyền lợi riêng của một đảng phái nào, không bị lôi kéo vào các tranh chấp chính trị.

Phật giáo, và những tôn giáo khác, đều kêu gọi mọi người sống tốt với nhau. Việc cúng dường trong Phật giáo khởi đi từ việc Phật xuống núi khất thực, xin thức ăn bố thí. Hành động đó kêu gọi sự buông bỏ đối với những tranh chấp về vật chất, và khơi dậy lòng từ bi giữa những con người với nhau. 

Điều đó hoàn toàn không phải là một sự trao đổi, đầu tư, và trục lợi. Việc các sư-sãi sử dụng tài vật, công sức, cúng dường đó vào các kế hoạch mua đất, đầu cơ kiếm lợi nhuận, là hoàn toàn trái với tinh thần Phật giáo. Đó là sự lợi dụng niềm tin của những tín đồ Phật giáo.

Khi Tarrant bước vào một ngôi nhà thờ Hồi giáo, một tín đồ Hồi giáo đã chào hắn “Hello, Brother” (Chào người anh em), Tarrant rút súng bắn gục người đó và bắt đầu cuộc thảm sát. Người Hồi Giáo thuần thành không kêu gọi bắn giết và khủng bố. Tín đồ Hồi Giáo bị nghiêm cấm sử dụng rượu vì cho rằng rượu sẽ làm loạn tánh và thánh Ala không ở cùng với người bị loạn tánh vì rượu. Việc lợi dụng niềm tin của người Hồi Giáo để kêu gọi sự giết chóc, không phải là tinh thần của đạo Hồi.

Những người tham gia mạng xã hội những ngày này đăng hình Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nắm tay ông sư chùa Ba Vàng, là người đang bị truy vấn về các khoản tiền đóng vào chùa để “nộp cho vong”, họ cũng đăng hình tổng thống Nam Dương, đất nước Hồi Giáo đông dân nhất thế giới, ông Joko Widodo, đã đến cắt băng khánh thành một hệ thống tàu điện do Nhật tài trợ và xây dựng trên đất nước của ông, với bộ đồ dân dã, bình dị.

Một người có niềm tin mạnh mẽ vào Thượng Đế, sẽ được Thượng Đế của họ hướng dẫn để phân biệt được đâu là niềm tin, và đâu là sự lợi dụng niềm tin. Tôn giáo và điều đối lập, khác biệt chính là sự lợi dụng tôn giáo. Đâu là Thượng Đế và đâu là Ma Vương trá hình Thượng Đế.

Ta là đường đi, là sự thật, và ánh sáng” – Kinh Thánh. Đường đi không phân biệt những bước chân dẫm đạp. Đường đi bao dung và tha thứ. Sự thật đối lập với điều giả trá. Ánh sáng soi rọi đến những vùng u mê tăm tối. Niềm tin tôn giáo chính là niềm tin vào sự thật, đường đi, và ánh sáng. Việc lợi dụng tôn giáo chính là chướng ngại, sự giả dối và bóng tối.

Nguyên Đại
31 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

16/03/2019

Trung Cộng: Cắm và siết ốc

Nguyễn Phú Trọng trà đàm
với Tập Cận Bình:
Trà Việt Nam không ngon bằng
 trà Trung Quốc.
Ảnh: Internet
Nếu muốn nối hai vật thể, hai thanh sắt hay gỗ ngay cả hai mảnh xương, phải làm gì: Cắm và Siết Ốc. Trung Cộng (TC) đã thực hiện chiến lược này đối với nhiều nước, đặc biệt là với Việt Nam.

1974
Sau chuyến đi Trung Quốc của TT Mỹ Nixon năm 1972, quan hệ chiến lược Mỹ-Trung chống Liên Xô được chính thức ký kết ở Thượng Hải. VNCH bị bỏ rơi, buộc phải ký hiệp định Paris năm 1973. 

Mỹ án binh bất động và TC chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, nằm cách bờ biển Việt Nam khoảng 300 cây số, với sự thỏa thuận của VC trước đó nhiều năm (Công Hàm Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai năm 1958).

Các cầu không và hải vận được thiết lập để chuyển khí tài và nhân lực đến Hoàng Sa biến nơi này trở thành một căn cứ quân sự có tính chiến lược trên biển Đông. Bốn mươi lăm (45) năm đã trôi qua, Hoàng Sa trở thành Tam Sa của TC. “Con ốc” Hoàng Sa đã được cắm và siết chắc, cố định như thể được hàn cứng xuống lòng biển để trở thành một trạm gác đối với VN, một pháo đài của TC trên biển Đông.

1984
Tranh thủ viện trợ toàn diện của cả Liên Xô và TC, xé bỏ hiệp định Paris, VC chiếm Miền Nam VN năm 1975, biến toàn cõi VN thành một trại cải tạo khổng lồ bọc trong một cả nước – hợp tác xã chìm trong thất bại và nghèo đói. Thỏa thuận với Liên Xô, VC đưa bộ đội sang Cambodia đánh bại quân Pol-Pot do TC hỗ trợ; và TC xua quân thọc vào toàn tuyến biên giới phía Bắc VN để “dạy cho VN một bài học”.

Các thế hệ thanh niên VN, sau 21 năm chiến tranh Nam-Bắc, tiếp tục đổ xương máu xuống cả hai mặt trận phía Tây và Bắc, năm 1979. Vướng vào hai cuộc chiến cục bộ ở hai tuyến biên giới, cộng với việc ôm cứng mô hình kinh tế XHCN “truyền thống Mác-Lê”, VC đã làm kiệt quệ nền kinh tế VN; trong khi các cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã khởi sắc đại lục Trung Cộng.

TC chiếm giữ một số vị trí chiến lược ở biên giới trong cuộc chiến tranh kéo dài hơn mười năm sau đó. Ải Nam quan một vị trí có ý nghĩa lịch sử bị TC chiếm, nhưng được nhắc nhiều nhất là các va chạm đẫm máu ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang, năm 1984. “Con ốc” phía Bắc được TC cắm vào nền đất cứng biên giới trên lãnh địa VN.

1994
Chuẩn bị xây dựng thêm một pháo đài nữa trên biển Đông, năm 1988 TC tiến chiếm các bãi đá Colin, Len-Đao và Gạc-Ma, thuộc quần đảo Trường Sa; trong khi Liên Xô đã có những xáo trộn, nứt gãy sâu sắc sau một thời gian chạy đua vũ trang với Mỹ, đuổi theo các mô hình kinh tế XHCN sai lầm, và bị liên minh Mỹ-Trung bao vây. 

VC rơi vào tình trạng kiệt quệ, thiếu chỗ dựa, tìm cách hướng về TC để duy trì chế độ. Lê Đức Anh đã ra lệnh buông súng và 64 binh sĩ VN trên đảo Gạc Ma đã bị hải quân TC tàn sát ngày 14/3/1988.

Năm 1989, VC rút quân khỏi Campuchia. Linh-Mười-Đồng đã ký hiệp ước Thành Đô với Giang Trạch Dân và Lý Bằng ở TC vào tháng 9-1990, dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, cùng với các trung gian Lê Đức Anh và Trương Đức Duy, viên Đại Sứ TC tại VN vào thời điểm đó.

Căng thẳng quân sự biên giới giữa VC và TC coi như tạm ngưng, và ngưng hẳn theo sau những nhượng bộ về đất đai dọc tuyến biên giới, với các cột mốc được cài sâu vào trong phần đất của Việt Nam, kèm theo một số nhượng bộ khác của VN trên vịnh Bắc Bộ. 

Các chướng ngại địa lý và chiến lược được dọn dẹp, mở đường để quan hệ giữa hai đảng CS Trung-Việt rẽ sang một bước ngoặc mới, đưa đến việc Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt ký hiệp định mậu dịch Trung-Việt vào tháng 11/1991 tại nhà khách Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh.

Hỗ trợ cho chính phủ Hun-Sen của Campuchia, TC áp sát sườn Tây của VN, đóng thêm một “con ốc” nữa trên quần đảo Trường Sa, phía Đông VN, và thiết lập các đường dẫn cho các bước tiến “mềm mại” từ phía Bắc. Bên cạnh đó, TC đẩy hộp kẹo nhãn hiệu “Liên Quan Thông Đồng” và chai nước tương (xì-dầu) [Sơn thủy tương liên. Lý Tưởng tương thông. Văn hóa tương đồng. Vận mệnh tương quan] về phía VC trên bàn đàm phán để cùng “phát triển kinh tế trong hòa bình hữu nghị” và duy trì sự sống-còn và quyền lãnh đạo tuyệt đối của ĐCS.

2004
Sau Hội nghị Thành Đô, lãnh đạo của hai ĐCS thường xuyên thăm viếng qua lại, diễn biến hòa bình từng bước xác lập. Sang Việt Nam: TT Lý Bằng (1992), TBT Giang Trạch Dân (1994), CTQH Kiều Thạch (1996), TT Chu Dung Cơ (1999), và Giang Trạch Dân (lần thứ hai) năm 2002. 

Quan trọng nhất phải kể đến chuyến viếng thăm của Hồ Cẩm Đào vào cuối năm 2005 với tư cách là TBT Đảng CSTQ, Chủ Tịch nước CHND Trung Hoa, và Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương. Chỉ trong chuyến đi này, TC và VC đã ký kết với nhau 14 hiệp ước và các thỏa thuận kinh tế với tổng số vốn lên đến 1.2 tỷ USD.

Năm 1999, Giang Trạch Dân đã “hát” tặng Lê Khả Phiêu bài “16 chữ vàng”: “Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai. Hữu nghị láng giềng. Hợp tác toàn diện”. Một năm sau, Nông Đức Mạnh với chức Tổng Bí Thư và “song ca” với Giang Trạch Dân ca khúc 16 chữ vàng và bốn tốt [láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt] trong chuyến viếng thăm TC vào tháng 11/2000.

Quan hệ giữa VC và TC được nâng tầm từ các thỏa thuận mậu dịch, biên giới, sau đó lên thành “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” theo sau chuyến đi của Nông Đức Mạnh đến Trung Quốc vào năm 2008. 

Trước đó, vào ngày 10/4/2007, tại Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng, khi đó là Chủ Tịch Quốc Hội VN, đã tuyên bố “quan hệ Trung-Việt chưa bao giờ tốt đẹp như lúc này”. Kim ngạch thương mại giữa hai nước từ 30 triệu USD năm 1991 tăng lên thành 22.5 tỷ USD vào năm 2009, gấp 700 lần sau 18 năm.

VN xuất khẩu sang TQ chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô: than đá, dầu thô, quặng Bauxite … và nhập khẩu các máy móc, thiết bị, hóa chất, sản phẩm kỹ nghệ. Vấn đề là sự mất cân bằng mậu dịch: trong khi hàng hóa VN không đủ sức cạnh tranh ở thị trường TQ, thì hàng hóa TQ lại thống trị hoặc phá hoại nền kinh tế lệ thuộc và èo uột của VN. 

TC đã cung cấp vốn cho VC qua các hình thức viện trợ không hoàn lại và tín dụng ưu đãi, ngược lại các dự án về cơ sở hạ tầng, ngay cả liên quan đến an ninh, ở tất cả các thành phố quan trọng của VN đều do TC thực hiện.

TC cấp nhiều học bổng cho sinh viên VN. Các đoàn văn công của hai quốc gia thường xuyên đi lại. Phim ảnh TQ tràn ngập thị trường và các đài tivi nhà nước của VN. Sách giáo khoa lịch sử VN, không viết gì đằng sau chữ “giặc” (giặc gì không cần biết). Truyền thông VN khi diễn dịch các va chạm giữa tàu thuyền trên biển giữa VC và TC, họ viết: tàu Việt Nam bị “tàu lạ” tấn công.

Năm 2013, Nguyễn Văn Thơ Đại Sứ VN tại TQ, phát biểu: “quan hệ Trung-Việt về tổng thể đã đạt nhiều phát triển mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu”, nghĩa là “các con ốc” trên khắp các lãnh vực địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa đã được cắm nhiều và sâu vào VN. Sự lệ thuộc của VC vào TC dường như bất khả vãn hồi.

2014
Đã xảy ra một vụ “chạm điện” trên sân khấu “ca-nhọt” của hai phía; tháng 5-2014, TC đưa giàn khoan 981 vào gần quần đảo Hoàng Sa, trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN. Vụ tranh cãi này đưa đến một số va chạm của tàu thuyền giữa hai “láng giềng tốt”. Các cuộc biểu tình nổ ra phản đối TC, ở cả trong và ngoài VN, đáng kể là các cuộc biểu tình của công nhân các khu vực công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, và Sài-gòn, đồng thời ở Vũng Án/ Hà Tĩnh.

Một vài cơ sở thương mại của người nói tiếng TQ bị đốt phá. Thêm vào là các cuộc biểu tình khác ở khu vực có đông người tỵ nạn VN sinh sống: Cali, Berlin, Frankfurt. Ngày 23/5/14 đã có một phụ nữ châm lửa tự thiêu trước Dinh Độc Lập. Ngày 20/6/14 có thêm một cuộc tự thiêu nữa của một cựu sĩ quan pháo binh VNCH ở Floria, Hoa Kỳ.

Trong khi nội bộ ĐCS Trung Cộng khá đồng nhất về các vấn đề với VN, thì nội bộ ĐCS VN đã có một số đồng chí đặt câu hỏi về “đồng chí tốt” TC. Ngày 22/5/14, trong chuyến viếng thăm Philippines, Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông”, và “những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói” [câu này lập lại một ý rất quen].

TC coi giàn khoan 981 như một cái “cặp nhiệt”, và phép thử này cho thấy có một số “đối-TÁT” chưa “tốt” do bị “nhiễm khuẩn” thân Mỹ và Tây Phương. Thắng VN trong một cuộc chiến trên biển là một điều không mấy khó khăn, nhưng nó phá hoại tất cả mọi cố gắng “mềm mại” đã thực hiện đối với VN trong hơn hai thập niên, kể từ mật ước Thành Đô. Hơn nữa, điều này có thể đẩy các nước trong khu vực tranh chấp ở biển Đông xích lại và gắn kết hơn trong một liên minh dưới sự bảo trợ của Mỹ.

Ngày 15/7/14, giàn khoan 981 rút đi vì “đã thực hiện xong các hoạt động thăm dò trong khu vực” theo Hồng Lỗi, phát ngôn của Bộ Ngoại Giao TC, một ngày sau đó. Phát biểu hông-lỗi này “đúng” và chính xác trong từng dấu chấm, nhấn, và nháy. Tháng 7 nhằm đầu mùa mưa bão trong khu vực biển Trung phần VN, rõ ràng là cái mà TC thăm dò không phải là dầu. Tháng 8/14, Nguyễn Phú Trọng cử đặc phái viên Lê Hồng Anh sang TQ theo lời mời của chính phủ TC để hạ nhiệt tình hình.

Cần phải có một sự thanh lọc toàn diện các “đồng chí tốt” ở VN để chuẩn bị nhân sự cho bước kế tiếp. Tháng 11/2015, Tập Cận Bình đến Việt Nam, tiếp xúc với Sang, Trọng, Hùng, Dũng. Sang đã mệt mỏi dã tâm, Hùng bất tài, Dũng không dùng được. Tập chọn Trọng.

Chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập đã được khởi trồng từ năm 2012, sau đại hội 18 của ĐCS Trung Quốc, nở rộ vào đúng thời điểm này. Thượng Tướng TC Quách Bá Hùng bị khai trừ khỏi ĐCS TQ tháng 7/2015. Trước đó một tháng là Bộ Trưởng Công An Chu Vĩnh Khang, một năm trước đó là Từ Tài Hậu, phó CT quân ủy trung ương ĐCS TQ. 

Sẽ không có điều gì thích hợp hơn là giúp Trọng giành quyền lực, thanh lọc hàng ngũ chống TQ trong nội bộ ĐCS VN với chiêu bài “chống tham nhũng”. “Con ốc” Nguyễn Phú Trọng được cắm vào chóp bu của ĐCS VN, và chiếc cờ-lê ma-dze in “chống tham nhũng” bắt đầu xiết thuận theo chiều kim đồng hồ theo sự điều khiển của siêu kỷ sư chế tạo robot, Tập Cận Bình.

Tham nhũng là mặt trái của đồng bạc, mặt kia là quyền lực tập trung, là độc tài cai trị. Vì vậy, từ tổ trưởng tổ dân phố đến chủ tịch nước, chỉ cần chỉ tay tới thì ma quỷ tham nhũng hiện nguyên hình. Việc bắt giam, quy án, xét xử đúng quy trình “tứng từng tưng” bất cứ “đồng chí” nào cũng đều không sai, và chắc chắn được sự ủng hộ của dân chúng. 

Cái bắt tay của ông Tập đối với ông Trọng đã nói rất rõ những điều tương tự như vậy, rằng: ta sẽ giúp ông lấy lại uy tín của đảng, sẽ giúp ông trở nên một minh quân, hay là một “ông Phật” cũng được (nếu ông muốn gọi như vậy), cùng với một đội ngũ cán bộ trung kiên, và trung thành với ông [và dĩ nhiên cũng sẽ trung thành với ta, với những mục tiêu mà ta và ĐCS TC nhắm đến].

Hai tháng sau khi Tập viếng thăm VN, tháng 1-2016, đại hội ĐCS VN lần thứ 12 được tổ chức: Hùng, Dũng, Sang đều được ĐH “cho phép rút tên” cùng với Rứa, Nghị và Hải. Tống Đào, đặc phái viên của Tập, có mặt tại VN trong suốt thời gian xảy ra ĐH. Các “tàu đánh cá” và hải cảnh của TC “tự nhiên” xuất hiện nhiều hơn trên vịnh Bắc Bộ. Các đơn vị bộ đội đặc biệt “không biết thuộc bộ chỉ huy nào” được triệu về thủ đô để bảo vệ ĐH. Dường như trong lịch sử ĐCS VN, chưa có một ĐH nào được bảo vệ chặt chẽ đến mức như vậy.

Trọng tái đắc cử chức Tổng Bí Thư và nói nhỏ nhẹ đến “dễ thương”: “… được ban chấp hành TƯ…bầu tôi làm Tổng bí thư, gần như 100% tuyệt đối, đấy là tôi bất ngờ… tuổi tôi là cao nhất, sức khỏe, trình độ cũng có hạn và tôi cũng đã xin nghỉ rồi nhưng trách nhiệm của đảng giao thì chúng tôi với tư cách là đảng viên phải chấp hành”. 

Thực ra, người đắc cử chức TBT qua đại hội này không phải là ông Trọng, mà là ông Tập Cận Bình. Ông Tập đã nắm được ĐCSVN, điều này chỉ có Mao Trạch Đông làm được với Hồ Chí Minh, khi chưa bị Lê Duẩn đề nghị “bác” ngồi chơi và “nghiên cứu lại các tập thơ” đã sao chép.

Các phe phái trong ĐCS VN đã có những tranh chấp dữ dội kể từ sau ĐH 12. Đại tướng Đỗ Bá Tỵ được cử sang giữ chức phó chủ tịch quốc hội, giúp việc gì đó cho bà Ngân CTQH. Việc này tương tự như lúc ĐT Võ Nguyên Giáp được thăng thẳng sang chức Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ Có kế hoạch, dưới triều Lê Duẩn. 

Đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, “không biết đi lạc ở đâu” không thấy về làm việc. Tư lệnh quân khu 2, tướng Lê Xuân Duy, “đột ngột qua đời”. Mười một ngày sau khi tướng Duy chết, bí thư và chủ tịch tỉnh Yên Bái nơi Duy làm việc bị giết. Vụ ám sát đôi này được tròng vào đầu Đỗ Cường Minh, được cho là tự tử sau khi gây án bằng cách “tự bắn vào gáy”.

Các tay anh chị trong ngành ngân hàng: Hà Văn Thắm, Trầm Bê, Trần Bắc Hà lần lượt sa lưới. Tay dính dầu Trịnh Xuân Thanh, BT tpHCM Đinh La Thăng, và bé hơn một chút, Vũ “Nhôm” cũng không thoát. Gần đây nhất, CTN Trần Đại Quang bị nhiễm bệnh lạ và qua đời, sau cái chết giống đến lạ lùng của Nguyễn Bá Thanh mấy năm trước đó. Buổi chiều, ở Trung Nam Hải, ngồi nhâm nhi ly rượu Mao-Đài thượng hạng, có đứa bé bên cạnh đang chơi game chiến tranh robot, ông Tập cười một mình.

2024
Tháng 3-2019, VN tổ chức hội nghị Trump-Kim, người ta không thấy ở đó có bất kỳ một sự tương đồng nào giữa Mỹ và Hàn Cộng về vấn đề giải giới vũ khí hạt nhân, nhưng có thể thấy rõ một liên minh chặt chẽ giữa Trung Cộng-Việt Cộng-Hàn Cộng. 

Đối với Tập, Trump là một ông già bị bệnh khó ngủ, cứ khoảng sáng sớm là nhảy “tuýt” lung tung trên mạng xã hội. Trump cần một người trẻ hơn để đi dạo chơi, và cậu Un đã được Tập đề nghị để cùng thư giãn với ông Trump một chút. Sau đó, hai người Trump-Kim đã dắt tay nhau đi vòng vo ở Singapore và Hà nội, rồi… về.

Nếu Trump ngồi tiếp được ở Nhà Trắng thêm được một nhiệm kỳ nữa, ông cũng tiếp tục là một “ông già dễ mến” đối với Tập trong vấn đề VN. Việc duy trì chính sách “Một nước Mỹ vĩ đại là trên hết” là một sự hỗ trợ cho các chiến lược quốc tế đối với TC, bao gồm các chiến lược đối với VN.

Nếu Trump buộc phải rút lui, vị tân tổng thống Mỹ sẽ phải giải quyết các vấn đề mà Trump để lại, bao gồm các vấn đề pháp lý trong nội bộ nước Mỹ. Đây chính là thời điểm cho một BOT Việt Nam thiết lập trên con đường tơ lụa của TC.

Nguyễn Phú Trọng bước vào tuổi 80, có muốn gì nữa trời cũng không cho, nhưng nợ của Tập thì phải trả. Ngày 23/10/18, khi nhận chức CTN sau cái chết của Trần Đại Quang, ông Trọng lẩy Kiều rằng:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay


Những ngày tháng sắp tới có lẽ, ông phải nghe, từ ông Tập và nhiều phía khác, đối lại rằng:
Nghĩ mình phận mỏng tính chuồn (hả)
Nợ nần phải trả, không tròn biết tay (ta).

Nguyên Đại
16 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

02/03/2019

Trump - Kim: Ta không cần nhau

Cuộc hội đàm chính thức giữa TT Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Yong-un chính thức bắt đầu vào 9h sáng ngày 28/2/2019 đến 1h30 chiều thì hai bên bỏ về, bỏ luôn bữa cơm trưa đã được chuẩn bị chu đáo, không có một thỏa thuận nào được ký kết.

Những ngày trước đó, toàn bộ tai mắt của hệ thống truyền thông quốc tế đều hướng về cuộc họp lần này, được tổ chức ở Việt Nam, một quốc gia cộng sản hy vọng trở thành “trung tâm hòa giải thế giới” như hệ thống truyền thông của đảng CSVN rêu rao.

Sau hội nghị lần đầu bất thành ở Singapore, lần này mọi người mong đợi một “thiên tài đàm phán” Donald Trump biểu diễn một pha “game” ngoạn mục để biến bán đảo Triều Tiên trở thành khu vực phi hạt nhân. 

Và, Trump cũng kỳ vọng như vậy, nên khi vừa tới nơi, đã ca ngợi Kim như là một “lãnh tụ vĩ đại”, bất chấp sự tàn bạo của Kim ngay cả với chính người thân của hắn, và với người Mỹ, không nhắc đến những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trên đất nước cộng sản sắt máu nhất thế giới này.

Thông thường trước khi các cuộc họp thượng đỉnh như thế này, các nhà ngoại giao, chuyên gia đàm phán của cả hai phía đi lại như con thoi để giải quyết các bất đồng của hai phía. Đa số các tranh chấp phải được bàn thảo và giải quyết trong giai đoạn này, để khi hai nhân vật chính ngồi lại, chỉ còn khoảng một vài điều cần phải thương lượng và hầu như cả hai đều sẵn sàng tương nhượng các khoản còn lại “nhỏ nhoi” này, nếu không nói là cuộc gặp mặt chỉ là hợp thức hóa các thỏa thuận trước đó bằng văn bản dưới sự chứng kiến của truyền thông.

Trước những cuộc họp như vậy, thường truyền thông sẽ được thông báo ít nhiều về những thỏa thuận cơ sở. Lần này, mặc dù sau lần thất bại ở Singapore, phía truyền thông cũng không được cho biết về những thỏa thuận cụ thể ở hai phía. Truyền thông có thể nghĩ là hai bên đã có nhưng họ không được thông báo, chứ không nghĩ tới chuyện “không có gì”.

Thực chất là đã không có bất kỳ một thỏa thuận cụ thể nào cả giữa hai phía. Sau cuộc họp, giới truyền thông mới “ngã ngữa” vì không thể không công nhận một sự thật như vậy. TT Trump buộc phải thừa nhận rằng, Mỹ và Bắc Hàn vẫn không thỏa thuận được về “định nghĩa chính xác của việc giải trừ vũ khí hạt nhân” (“US and North Korean officials remain at odds about the precise definition of denuclearization”). 

Sẽ là một sự ngây thơ, hay quá tự tin, khi nghĩ rằng chỉ bằng một vài cuộc gặp mặt ngoại giao, Kim sẽ cho phá hủy hoàn toàn các kho vũ khí hạt nhân của họ, giải tán các cơ sở tinh luyện, và rút khỏi các chương trình thử nghiệm.

Như trường hợp giữa Mỹ và Liên-Xô cũ cho dầu các văn bản giải trừ chạy đua vũ trang vẫn còn hiện hữu, bất cứ ai cũng không tin rằng, họ nghiêm chỉnh thi hành những điều họ đã ký kết. Tất cả các cam kết giữa quốc tế, nhất là giữa các quốc gia đối lập, chỉ có tính cách tương đối vì nhân loại vẫn chưa có được một “Tòa Án” đủ sức cưỡng hành, và trừng phạt một cách hiệu quả các vi phạm.

Hiệp Ước bất tương xâm giữa Hitler và Stalin bị xé bỏ dễ dàng sau đó, khi Hitler bất ngờ mở mặt trận phía đông thời chiến tranh thế giới thứ hai. Nhân loại cũng không giải quyết được vấn đề Stalin, về việc tại sao Stalin lại ký kết hiệp ước đó, vào thời điểm đó. Gần hơn, đối với Việt Nam, có ai còn tin thỏa ước ngưng bắn giữa VC và VNCH trước Tết Mậu Thân 1968, hay Hiệp Định Paris năm 1973 ngăn cấm việc CS Bắc Việt xâm lược miền Nam Việt Nam.

Hy vọng nhiều thì thất vọng càng lớn hơn, khi Kim yêu cầu, rất rõ ràng rằng, phải hủy bỏ toàn bộ cấm vận đối với Bắc Hàn; họ Kim lại, rất không rõ ràng, trong việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Kim chỉ đồng ý việc “bắt đầu tháo dỡ” (“begin dismantling”) cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân ở Yongbyon. 

Mỹ thì bảo “chưa đủ”, và dĩ nhiên không nói thêm chi tiết là “còn mấy kho khác nữa”, và Kim thì đâu có khai thêm vị trí, tầm cỡ của những kho khác. Trump cũng không thể cho Kim biết là Mỹ biết những kho khác nằm ở đâu, bởi đó là những tin tức tình báo rất khó kiểm chứng. Những kho vũ khí khác của Kim đâu có dán bảng hiệu “Quân Đội Nhân Dân”.

Họ Kim định chơi một ván tháu cáy: OK, sẽ hủy bỏ, mở cửa những kho cũ thời “Napoleon còn mặc quần đùi”, giữ lại các kho hiện đại, không mất gì nhưng được tất cả, nếu Mỹ giải trừ toàn bộ cấm vận.
Trump hy vọng với “ba tấc lưỡi” có thể làm một người vĩ đại trong lịch sử nhân loại, nếu Kim cho tháo dỡ tất cả các kho vũ khí hạt nhân.

“Đời không như là mơ” nên cả hai Trump-Kim đều phải bỏ về, làm Tổng-Chủ “trung tâm hòa giải thế giới” tiu nghỉu, và chưng hửng.

“Nếu muốn hòa bình, chuẩn bị chiến tranh” (“If you want peace, prepare for war”) là một câu ngạn ngữ Latin, được Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt trong Thế Chiến Thứ Hai nhắc lại với ý: Nói nhẹ nhàng, nhưng đem theo một cây gậy lớn (“Speak softly and carry a big stick”). Với Tổng Thống Ronald Regan: Chúng ta biết nhân loại khao khát hòa bình, nhưng hòa bình không tự nhiên tồn tại, nó tùy thuộc vào sự can đảm của chúng ta để xây dựng, giữ gìn và chuyển đến các thế hệ sau (Nguyên văn: “We know that peace is the condition under which mankind was meant to flourish. Yet peace does not exist of its own will. It depends on us, on our courage to build it and guard it and pass it on to future generations”).

Kim sẽ giữ những đầu đạn hạt nhân của Bắc Hàn trong kho chừng nào mà gã còn hiểu rằng hệ thống phòng thủ và phản công của Mỹ sẽ rất hiệu quả. Và, thực ra, Kim không cần hòa giải với Mỹ, vấn đề Bắc Hàn không phải đến từ bất kỳ quốc gia nào khác, mà là đến từ chính người dân Bắc Hàn, nếu Kim bắt đầu cởi trói cho họ, và thực tâm hòa giải với người anh em phương nam của họ. Kim không cần Mỹ. Kim cần sự thay đổi của chính Kim, và đồng đảng của Kim.

Không có con đường tắt cho hòa bình. Hòa Bình là một con đường, không phải là một đích điểm. Chừng nào sức mạnh quân sự của Mỹ và Đồng Minh còn đủ sức ngăn chặn chiến tranh, chừng đó nhân loại, về cơ bản, còn đi trên con đường hòa bình. Hai ngàn năm trước, Đại Đế La Mã Hadrian nói: Hòa Bình bằng Sức Mạnh, nếu không, thì bằng sự đe dọa (“peace through strength or, failing that, peace through threat”). Lịch sử nhân loại đã minh chứng cho sự thật đó.

Nguyên Đại
2 Tháng Ba 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

17/02/2019

Trọng không lú, mà là láu!

Ngày này, 17-2, đúng 40 năm trước, năm 1979, Trung Cộng tấn công Việt Cộng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Hệ thống tuyên truyền của ĐCS VN hoạt động với công suất tối đa, khuyếch đại lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam. 

Lúc đó không ai dám hát “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, ôi tình hữu nghị sáng như biển Đông…”. Bài ca con cá này VC đã hát suốt thời kỳ nhận viện trợ toàn diện của Trung Cộng để tấn công chính quyền Miền Nam Việt Nam.

Cuộc chiến tranh biên giới giữa VC và TC diễn ra chớp nhoáng trong khoảng một tháng nhưng đã cướp đi trung bình mỗi ngày, mỗi phía hơn 1000 nhân mạng. Quân chủ lực Trung Cộng sau đó kéo về phía bên kia biên giới, tàn sát mọi sinh vật và tiêu hủy mọi thứ, trên đường rút quân.

Sau năm 1979, chiến tranh vẫn âm ỉ ở mức độ cục bộ suốt 10 năm sau đó. Trung Cộng vẫn không ngừng, bằng mọi thủ đoạn, lấn đất, lấn biển. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc bây giờ đã nằm sâu trong phần đất thuộc quyền kiểm soát của Trung Cộng. Mặt trận biên giới Vị Xuyên 1984 -1989 với trận chiến đẫm máu ở Lão Sơn đâu có nhiều người biết. Báo chí đảng cũng không nói đến trong thời gian xảy ra chiến tranh.

Năm 1988, Lê Đức Anh ra lệnh không nổ súng và toàn bộ sĩ quan, bộ đội Việt Nam đóng ở đảo Gạc-Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, đã bị hải quân Trung Cộng tàn sát. Trong suốt 10 năm đó, hệ thống tuyên truyền của ĐCS VN vẫn không nhắc tới những trận đụng độ cục bộ giữa VC và TC. Tại sao? VC phạm những sai lầm chiến thuật, mất nhiều nhân mạng và cứ điểm?

Năm 1989, Đông Âu sụp đổ, và sau đó Liên Bang Xô-Viết tan rã, ĐCS VN mất chỗ dựa, họ buộc phải thương lượng với TC. Nguyễn Văn Linh đang cổ súy cho chính sách “Perestroika” theo mẫu mã của Liên Bang Sô-Viết, buộc phải khựng lại. 

Mật Ước Thành Đô (Tứ Xuyên, Trung Quốc) ra đời năm 1990, và VC bẻ hướng “đổi mới” theo kiểu của Đặng Tiểu Bình. Từ đó, hệ thống tuyên truyền của VC không được phép nói gì về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, cũng như các cuộc đụng độ nhỏ hơn trong 10 năm sau đó. Rồi thì, như “quý vị đã biết”: “16 chữ vàng, 4 tốt” mà Trung Cộng ban cho VC ra đời.

Vài tuần trước, tự nhiên hệ thống tuyên truyền VC lại mở hết các loa về cuộc chiến biên giới 1979. Điều này làm ngạc nhiên không những “bọn phản động” mà các đồng chí “bò đỏ” cũng chẳng hiểu mô-tê, ất giáp gì cả, họ “hớ toàn diện”. 

Các ông GS-TS VC cũng bán tín, bán nghi, bèn phán rằng là phải tránh các từ nhạy cảm như “dã man” v.v… khi nói về sự tàn phá và tàn ác của quân Trung Cộng đối với các phụ nữ và trẻ em ở các tỉnh biên giới khi TC chiếm giữ các nơi này. “Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam” mở hội thảo về đề tài này lần thứ HAI, lần thứ nhất vào năm 1979!

Câu hỏi là, tại sao “nín” tới 40 năm, để rồi bây giờ mới cho “xả”? Chơi chiêu: “Trăm Hoa Đua Nở”, “Dụ Rắn Xuất Động”? Không, bởi vì kể từ khi internet và các trang mạng xã hội phát triển, không phải “trăm hoa” mà là “triệu hoa” đua nở, không cần đảng “cho phép”. Luật An Ninh Mạng (i.e. “Animal”) cũng không giải quyết được điều gì. Bắt “thằng” viết, không lẽ không bắt “thằng” “comment”, và rồi cũng phải bắt luôn “thằng” thích/ like và love/ “thả tim”. Bắt hết rồi thì nhốt ở đâu?…

“Gió đổi chiều”? Ngả hẳn về phía Mỹ? Không, cả hai phía Mỹ và VC đều chưa có sự chuẩn bị cho một lộ trình như vậy. Ông Trọng, cách đây không lâu cũng đã tuyên bố là “quan hệ Việt Trung chưa bao giờ tốt đẹp hơn…” và “kiên định đi theo con đường XHCN”.

Vậy thì, hà cớ gì mà cho mở hết “loa phóng thanh” như vậy? 

Trước hết, ai cho phép? Vụ này Trọng không gật đầu, không ai dám làm. Phúc và Ngân không thể đơn phương tự quyết việc này được. Vậy thì tại sao Trọng gật?

Dĩ nhiên không phải là ý của Tập Cận Bình. Tập không tâm thần đến nỗi yêu cầu bộ máy tuyên truyền của Trọng tấn công đảng, nhà nước và quân đội nhân dân Trung Hoa. Vậy là giữa Trọng và Tập có chút vấn đề. Ủa, mới dắt tay nhau đi như “không thể nào gần hơn nữa”, và Trọng ký một loạt 15 văn bản với TC, bây giờ là vấn đề gì?

Chỉ có thể giải thích bằng cách là: Tập muốn Trọng thực thi các văn bản đó, bao gồm mật ước Thành Đô, nhưng Trọng thì bảo rằng, chưa được, cần phải có thời gian. Mật ước Thành Đô, mấy “đồng chí” ký xong, qua ải rồi, ăn nhậu và hạ cánh an toàn hết, bây giờ bảo “tớ” thực thi… “Tớ” cũng “thất thập cổ lai hy” và từ xưa tới nay tớ chỉ có dưới chủ tịch Hồ Chí Minh, còn thì không thua cho bất kỳ một đồng chí TBT nào cả trong lịch sử Đảng CSVN để có thể vừa nắm công an, quân đội, chủ tịch nước và TBT đảng. “Lú” thì là do tụi nó đặt thôi chứ, tớ “đâu có ngu”!

Trong khi đó, quyền hạn của Tập cũng chỉ có sau mức của Mao Trạch Đông lúc còn tại thế chứ tuyệt đối không thua bất kỳ ai cả, kể cả Đặng Tiểu Bình. Tập muốn VN phải là một khu vực tự trị, hay ít nhất phải để Tập kiểm soát biển Đông, trong lúc Tập còn đương quyền, chứ không “hẹn hò” gì cả. Tập không muốn bị Trọng cho “leo cây”, và leo “cho đến bao giờ”.

Vậy thì phải làm sao? Vũ khí, quân đội, kinh tế, tất cả mọi thứ đều bị TC khống chế. Kinh tế? Tiền không đủ để trả tiền lời vay từ ngoại quốc, làm sao đấu với ông chủ nợ của thế giới. Vũ khí, quân đội? Các tướng lĩnh VC quá “tâm tư” trong việc làm kinh tế, nên không đủ tài lực để đương đầu với một cuộc chiến như năm 79, nhất là không có sự hậu thuẫn của một cường quốc. 

Bây giờ, chỉ còn là “nòng” người thôi. Mở “loa” lên để Trọng có cớ nói với Tập rằng: “bác” thấy đấy, tớ bảo chưa được mà, lòng người dân Việt Nam sùng sục thế kia, bác không cho thời gian thì tớ phải làm sao? 

Mở “loa” cho phép hệ thống tuyên truyền, tuyên giáo hoạt động hết công suất về cuộc chiến 1979 sẽ được lòng các đồng chí đi lên từ cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc. Đồng chí X trước đây có nói một câu được lưu chú khá nhiều là “không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông…”. Tập ghét câu này của Dũng nên đã giúp Trọng đưa Dũng về: vừa làm “người tử tế”… vừa run. 

Còn Trọng bây giờ cho nguyên cả một bộ máy tuyên truyền phản kích Trung Cộng, như vậy so với các đồng chí trong đảng, Trọng “ngon” hơn đồng chí X nhiều. Các đồng chí “anh hùng các lực lượng vũ trang” lại gần bên tớ, sao lại đứng xa thế kia, đừng sợ… Tớ chỉ “thịt” đồng chí X vì nó vừa ăn tạp vừa láo, chứ các đồng chí thì không việc gì phải sợ…

Mở “loa” vừa được tiếng là “không hèn với giặc” như bọn “phản động” vu vạ. Các ông chửi TC, thì bây giở tôi cũng chửi TC, chúng ta là “khúc ruột” dẫu “ngàn dặm”, bây giờ các ông muốn sao, hử?

Mở “loa” và đăng cai tổ chức hội nghị Trump-Kim, Trọng gởi một thông điệp tới Trump rằng: Ông cứ yên tâm, ông không thích TC, tui cũng vậy. Chừng nào ông còn cho chiến hạm đi tuần ở biển Đông, thì chừng đó TC không nuốt được biển Đông, và tui cũng không cho TC vào hẳn VN, và ông thấy đó “quân của tui đang chửi nó xối xả” đó, ông cứ làm Tổng Thống của ông, tui làm Tổng-Chủ của tui, vậy nhé!

Cái chiêu mở “loa”, “nhứt tiễn xạ hai ba con chim”, thực ra đâu phải dở… Trọng không lú a, mà là “láu” cá!

Nguyên Đại
17 Tháng Hai 2019

Đã đăng trên:
Báo Tiếng Dân

Tiếng Dân Facebook

Đã đọc trên YouTube